Thập Can Chiết Tự

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +
Showing 1 of 1

Trong thuật số cổ xưa có lưu truyền 1 bài thơ có tên là “Thập Can Chiết Tự”, đa phần mọi người thấy nó xuất hiện trên cuốn sách “Ngọc hạp chính tông” nên trích dẫn ra, nhưng có lẽ nó không phải bắt nguồn từ đấy, mà phải có một ngọn nguồn xa xôi ở đâu đó trong giang hồ thuật sĩ của Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc gì đó.

THẬP CAN CHIẾT TỰ, tức là đem biến hóa 10 chữ Thiên Can theo thuật “chiết tự” của chữ Hán để đoán ý nghĩa của nó. (Chứ không phải là dùng Âm Dương-Ngũ hành với Năng Lượng gì gì đó đâu…)

THẬP CAN CHIẾT TỰ

Giáp (甲) biến vi điền(田)
Ất (乙) biến vi vong (亡)
Bính(丙) biến vi tù (囚)
Đinh (丁) biến vi vu (于)
Mậu (戊) biến vi quả (寡)
Kỷ (己) biến vi ân (殷)
Canh (庚) biến vi cô (孤)
Tân (辛) biến vi toan (酸)
Nhâm(壬) biến vi vương (王)
Quý (癸) biến vi thiên(天)

Chú : Phép “chiết tự” “Biến tự”, tức là thay đổi số nét của chữ đi để thành 1 chữ khác gần giống tự dạng (như chữ Giáp, chữ Điền), hoặc them bớt bộ thủ trong chữ cho thành chữ khác (như chữ Quý, chữ Thiên), hoặc lấy âm (âm đọc tiếng trung) gần giống để thay thế v.v….

Thập Thiên Can chiết tự thi (bài thơ về chiết tự 10 chữ Thiên Can) – Chép theo Ngọc Hạp Chính tông

1. Chữ Giáp

Nhân sinh Giáp tự biến vi Điền
Phú quý vinh hoa thực lộc thiên
Phụ mẫu huynh đệ tha biệt sở
Phu thê nhị đại hậu song toàn

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Giáp có số đất điền
Bằng không cũng hưởng lộc tài tự nhiên
Anh em nào có cậy trông
Tha hương lập nghiệp mà nên cửa nhà
Vợ chồng thay đổi nhiều lần
Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng
Cho hay duyên số ở trời
Khá làm âm đức, phước đành hậu lai
Số này tuổi nhỏ tay không
Lớn lên có của, vợ chồng làm ra

2. Chữ Ất

Nhân sinh Ất tự biến vi Vong
Gia thất, tiền tài tất thị không
Lục súc tị phiền du vong bại
Phu thê biến cải định nan phùng

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Người sinh chữ Ất gian nan
Lắm khi dào dạt, lắm lần tay không
Nuôi vật, vật cũng tang thương
Ở cùng bầu bạn chẳng phần đặng yên
Vợ chồng thay đổi lương duyên
Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng
Số này sớm cách quê hương
Ra ngoài lập nghiệp mới nên cửa nhà
Cho hay số ở Thiên Tào
Người hiền lận đận, tuổi già nhờ con

3. Chữ Bính

Nhân sinh Bính tự biến vi Tù
Lão thiểu vô an hạn bất chu
Sở hữu ngoại nhân y hữu định
Thân cư quan quý quá niên trường

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Bính số cũng quạnh hiu
Người sinh chữ ấy trọn đời âu lo
Tuổi nhỏ bịnh hoạn ốm đau
Lớn tuổi cô quạnh một mình thảm thương
Số này lập nghiệp tha phương
Có chí tu niệm kính tin Phật Trời
Nếu mà giữ dạ hiền lương
Tuổi già sẽ được lộc tài tự nhiên
Những người có chí thiện nhân
Có khi lao khổ có ngày thảnh thơi.

4. Chữ Đinh

Nhân sinh Đinh tự biến vi Vu
Gia thất tiền tài bất định tu
Trung vận trùng lai vinh phú đắc
Thiếu niên lao khổ uổng công phu

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Đinh biến vi chữ Du
Số nhỏ bệnh tật ốm đau thường thường
Lắm lần tai nạn thảm thương
Nhờ có hồng phước Phật Trời chở che
Lớn lên thông tuệ khác thường
Có quyền có chức có tài tự nhiên
Có chí sáng tác mọi ngành
Có tài có đức cầm quyền điểm binh
Xét xem qua số nợ duyên
Trai đôi ba vợ, gái thì truân chuyên
Nết na đức hạnh dung hoà
Nhưng mà cũng chịu vui chiều buồn mai
Cho hay căn số tự Trời
Duyên đầu lỡ dở hiệp hoà duyên sau
Có căn tích thiện tu nhân
Tuổi già chung hưởng lộc tài ấm no

5. Chữ Mậu

Nhân sinh Mậu tự biến vi Quả
Phiêu phất tha phương định thất gia
Cô độc nhất thân vô phương định
Hành thân phản mại lạc ngâm nga

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Mậu cô quạnh tha phương
Lìa nhà xa xứ, lắm lần gian nan
Anh em ruột thịt chẳng hoà
Tha phương bầu bạn chỉ nhờ người dưng
Gái thì lận đận lương duyên
Khi thì vui vẻ khi tan nát lòng
Đôi lần mới đặng thành công
Tuổi trẻ lao khổ, tuổi già nhờ con
Tánh hay tích thiện từ hoà
Tin Trời, tưởng Phật lòng hàng ái tha
Những ai có chí tu nhơn
Tuy rằng hoạn nạn, phước còn hậu lai

6. Chữ Kỷ

Nhân sinh Kỷ tự biến vi Ân
Gia thất tiền mệnh phú vinh
Gia sự đa tài, sinh hiếu tử
Hữu thời tấn tới tự phi vân

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Kỷ biến vi chữ Ân
Tánh thì mau mắn làm ơn cho người
Tấm lòng trung trực vẹn bề
Làm ơn nên oán, nhiều lần tân toan
Của, con có sẵn tuổi già
Tuổi trẻ lao khổ tha phương lập thành
Nhiều khi tán tụ như sương
Khi ăn chẳng hết,khi thì tay không
Nợ duyên tan vỡ buồn lòng
Đôi lần ly hiệp mới nên gia đình
Khá nên tích thiện tu thân
Tuổi già sẽ thấy môn đình sum vinh

7. Chữ Canh

Nhân sinh Canh tự biến vi Cô
Số ấn công hầu lưu khách địa
Gia thất lập thân thừa tổ đức
Phước tài tái tận mãn vinh hoa

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Nhân sinh Canh tự biến vi Cô
Số ấn công hầu nên danh phận
Bằng không thì cũng lắm nghề khéo thay
Vợ chồng cách trở sơn xuyên
Đôi lần ly hiệp mới nên cửa nhà
Gái thì hiu quạnh muộn màng
Bằng không thì cũng đôi lần mới nên
Số này tu niệm thì hay
Hậu lai sẽ hưởng phước dày lộc cao
Có đâu thiên vị người nào
Số cao thì hưởng lộc tài tự nhiên

8. Chữ Tân

Nhân sinh Tân tự biến vi Tan
Tánh khí hiền lương lập nghiệp nan
Phu phụ nhất tâm lưỡng nhân thú
Bằng hữu cự tộc tối vinh quang

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Tân biến vi chữ Toan
Gia đình dời đổi đắng cay muôn vàn
Một thân tự lập mà nên
Tha phương lắm độ phong sương hải tần
Lương duyên thay đổi đôi lần
Tuổi già phú túc miên miên cửu trường
Những người có chí thiện nhân
Trời dành hậu quả hưởng nhờ phước dư

9. Chữ Nhâm

Nhân sinh Nhâm tự biến vi Vương
Thân thọ mạng trường thiên số chung
Tị hiềm hung đồ tha biệt sở
Thân cư quan quý hậu an khương

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Nhâm biến vi chữ Vương
Thân thì thọ số, mạng thì vinh quang
Có lần cách trở gia hương
Xứ xa lập nghiệp, vinh quang ai bì
Số này nghiệp tổ không nhờ
Thân lưu đất khách lập nên cơ đồ
Trai thì vợ đôi,vợ ba
Gái thì số cũng đôi lần mới nên
Khá nên tích đức thiện nhơn
Hậu lai sẽ hưởng phước Trời ấm no

10. Chữ Quý

Nhân sinh Quý tự biến vi Thiên
Tiền hậu phu thê y lộc nhiên
Chức phận văn chương đa phú quý
Trí tuệ vinh hoa hưởng thọ trường

(Dịch Nôm – Ngọc hạp chính tông)

Chữ Quý biến vi chữ Thiên
Trai thời chức phận, gái thời chính chuyên
Số này cũng có đất điền
Gia môn phú túc thọ trường bền lâu
Vợ chồng hoà thuận đủ điều
Khi ra phong nhã, khi vào hào hoa
Nếu mà tích thiện, tu thêm
Ngày sau con cháu miên miên cửu trường

Theo bài thơ này, có khá nhiều câu “ăn theo”, thường là do các thầy giang hồ thuật sĩ dân gian thêm thắt, diễn nôm cho dễ nhớ dễ thuộc, kiểu như “Canh cô – Mậu quả”, “Trai Đinh Nhâm Quý thì tài – gái Đinh Nhâm Quý thì hai lần đò”.

Xét 1 cách chi tiết :

Tuổi Giáp : Nam thì tuổi trẻ tha hương lập nghiệp, Nữ thì lận đận tình duyên, gia đạo dời đổi đôi lần.

Tuổi Đinh : Nam thì thiếu thời vất vả, có chí lập nghiệp, trung vận ắt sẽ thành phú quý. Nữ thì gia đạo không yên, dời đổi đôi lần.

Tuổi Nhâm : Nam thì thiếu thời ly biệt tha hương, là người có tài chí, hậu vận sẽ thịnh đạt. Nữ thì gia đạo không yên, dời đổi đôi lần.

Tuổi Quý : Nam thì Phú Quý vinh hoa, Nữ thì chính chuyên, phu thê hòa mục (!)

Nếu xét như trên, để cho câu ấy đúng cho cả hai trường hợp (Nam có tài, Nữ hai lần đò), thì phải là : “Trai Đinh Nhâm Giáp thì tài, Gái Đinh Nhâm Giáp thì hai lần đò”.

Lý thuyết thì là như thế, nhưng thực tế câu ấy có đúng không thì chưa thể kết luận, bởi vì nếu xét theo Can Chi bát tự thì mới chỉ có Niên Can thôi chưa đủ. Tuy nhiên, nguyên tắc của Thuật số Tri Mệnh là “không có câu nào hoàn toàn đúng cho mọi trường hợp”, mà đơn giản chỉ nên hiểu rằng đó là 1 khía cạnh cần xem xét. Nhiệm vụ của “ông thầy” là phải tập hợp, tổng kết và … chốt hạ. Xôi gà ở đấy mà ra cả.

Thực ra, trong các bài thơ trên thì cái ý nghĩa “Trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng” thể hiện khá rõ. Bởi lẽ, chuyện dời đổi gia đình đâu chỉ có xảy ra với Nữ nhân, mà Nam nhân cũng chịu đó thôi, tại sao lại chỉ xét Nữ mà không xét Nam? Có phải chăng “Nữ nhân Phu Tử tối vi tiên”??

Vài lời bản nhảm, xin nhường các cao nhân tiếp tục.

Showing 1 of 1
Chia sẻ.

Bình luận