Kỳ Môn – Luận chủ khách

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

LUẬN CHỦ KHÁCH:

Thái công nói:Chủ và Khách động tĩnh không định, biến hóa khôn lường, cho nên Chủ và Khách là tượng không định. Hoặc lấy động trước là khách, động sau là chủ hoặc lấy động là khách, lấy tĩnh là chủ. Hoặc lấy nói trước là Khách. Hoặc lấy thiên bàn là khách, địa bàn là chủ: mọi việc đều có dùng để quyết thành bại thắng phụ, đều quy ở nơi chủ đãi khách nơi khẩn yếu vậy.

Như xuất binh động chúng, lấy ta là Khách, đất nơi đến kia là Chủ. Hoặc lấy tổ giặc và thành quách giặc xâm chiếm là Chủ. Hoặc lấy Dương là Khách, Âm là Chủ. Hoặc lấy phản khách làm chủ ,phản Chủ làm Khách.

Ví như tuyển tướng, cầu hiền, chiêu binh, sắm ngựa, tìm yết, hỏi bạn, các loại ấy thì ta là Khách, còn người là Chủ.
Như có người đến cầu ta hoặc biết ta mà ta chưa biết, như thế thì họ là Khách mà ta là Chủ.

Như ở trước trận hay không ở trước trận ấy cũng phải chia ra Chủ và Khách. Hoặc lúc này giao phong, nếu lợi khách thì trước nên diễu võ giương oai, bắn súng reo hò. Nếu thấy lợi Chủ thì nên ngả cờ im trống, cấm nói, mai phục để giữ phần thắng

Khi phát binh nên xem cờ giặc xa gần. Như lúc phát binh giao chiến hoặc lúc không động giao phong, không được lấy trước động là Khách. Đợi lâm địch, lấy chủ khách tới thời mà dùng mới được. Như lúc này, chủ khách đều không lợi:chỉ nên cố giữ. Nếu có cấp bách, hoặc bị vây khốn nên lấy kế thắng hoặc vận trú bế lục mậu hoặc cưỡi thiên mã hoặc thư phù niệm chú, các thứ ấy đều được cả. Nư việc Nước, Đô, Tỉnh, Phủ, Huyện, Bang, các việc gia trạch, quan tụng, mồ mả, cầu mưu, danh lợi, hôn nhân, người đi ngoài xa, mátmát, đuổi bắt…thì lấy Địa bàn là Chủ nhân. Thiên bàn là Khách nhân. Việc nhiều không kể xiết. Đại để Các sao thiên bàn sinh hợp địa bàn là nhất. Địa bàn sinh hợp thiên bàn là thứ. Như khách sinh chủ thì xứng ý toại lòng, nhiều mỹ mãn, nhiều tiện ích. Chủ sinh khách thì hao tán, chậm trễ. Chủ khách đều hoà thì việc làm đều toại ý. Chủ khắc khách thì nửa thực nửa hư, tự bại tự hòa, không có kết quả. Khách khắc chủ thì chiến bại kết quả không thành, cầu cát được hung. Nếu thạo dùng Kỳ Môn, thì trước chia chủ khách, sau mới xem phép. Như lúc ấy mà lợi chủ thì ta là chủ. Lúc ấy lợi khách thì ta là khách. Hoặc lấy tiến là Khách, không tiến là Chủ tất cả tại ở lòng ta, khg thể chấp nhất là khách, làchủ, tại ở ta vậy.

Tổng pháp thiên cơ – tiền biên

Khi bố diễn Kỳ môn, trước xem tượng trời, sau xét tới nhỏ nhặt, đều ở lòng ta biết dung, không thể không biết thế.
Như Thiên bàn, chín tính, Kỳ Nghi, tám môn thuộc kim, trên địa bàn cát tinh là trên mộc, thế là Khách Kim đến thương Chủ Mộc. Chiến thì lợi bên Khách. Hành binh thì cử trước, bắn sung reo hò, sĩ tốt tinh cường, trăm chiến trăm thắng. Các việc như cầu mưu, xin yết, giao dịch thì phá bại lo kinh. Bên Khách ám muội, gặp quân trộm cắp tiểu nhân, duy xem người đi xa về.

Nếu Kim Vượng, Mộc suy thì hung lại càng quá.
Như Thiên bàn Kim tinh gặp thời suy Mộ Tử Tuyệt mà trên Mộc thì Kim không có Khí, không khắc được Mộc. Nếu Mộc được thời Sinh, Vượng thì Mộc tinh là cát. Như Mộc cũng gặp thời Suy Mộ Tuyệt thì không khỏi được hung.
Như Thiên bàn Mộc tinh, trên địa bàn Hỏa tinh. Trên là Mộc có thể sinh Hỏa, chiến lợi bên Chủ. Mọi việc mưu làm đều được như ý. Như có trung Mộc, tới cung Sinh Vượng gọi là Mộc tham sinh ép Hỏa là Hỏa không sáng. Hỏa dần tự tắt. Nếu Mộc tới cung thoát khí, hoặc Mộc nhiều mà nhiều là khô mộc thì sinh Hỏa, đại lợi chủ binh.

Như Thiên bàn Thổ, trên địa bàn Kim, đó là Khách đến sinh Chủ. Nếu là thổ vượng, hoặc có trùng Thổ, tuy gọi sinh Kim, mà Thổ trùng chôn Kim, tất có binh ngầm mai phục, hoặc anh hung thất chí, hoặc trung liệt chịu khuất.
Như Thiên bàn Mộc trên địa bàn Kim là Chủ thương Khách, nên ngả cờ lau trống, cấm nói mà nghênh địch thì đại thắng. Nếu có mưu làm thì việc nhiều phá bại, có thủy không có chung. Duy có cầu danh thì hiển đạt. Việc quan được mất, xuất hành cát.

Như Thiên bàn Kim, trên địa bàn Thổ là Chủ sinh Khách, nên diễu võ dương oai, toàn tuần chính ca khúc khải hoàn, binh Khách đại thắng. Các việc mưu làm trước sau đều hao, vất vả, khó nhọc, sau mới được an.

Tác dụng diệu pháp -hậu biên

Phép diệu dụng, toàn ở 4 thiên can của năm tháng ngày giờ bay trên 9 cung, hợp thành cát hung mọi cách, thì biết được vua thánh tôi hiền, con hiền cháu thảo, cha mẹ, vợ thiếp, đày tớ, hàng xóm, mọi việc thành bại có thể suy rõ. Can năm là vua, là cha mẹ. Can tháng là tôi, là tể tướng, là chú bác. Can ngày là anh em bè bạn. Can giờ là vợ thiếp, con cái, sĩ tốt, tôi tớ.

+ Như thiên bàn can năm hợp thành cách cát, môn sinh cung, hay trên dưới hợp nhau thì chủ về nước thái dân yên, vua tôi cha mẹ, phúc thọ khang ninh.
-Ví can năm hợp thành cách hung hay bị xung khắc thì chủ về 4 bề binh lửa, trong lòng không yên, ruột thịt hình thương, tai ách lo hoảng,
+ Can tháng được thiên bàn cùng sinh, hay hợp thành cách cát thì có tôi trung, sĩ liệt, giúp nước yên dân, lên quan, phong tước muôn việc vừa long.
– Nếu hợp thành cách hung, lại bị khắc chế thì có tôi gian chuyên quyền, quan hưu chức bãi, lục thân chia lìa, nghèo đói lang thang.
+Ví can ngày được thiên bàn, 8 môn sinh hợp cách cát, thì chủ anh em hòa mục, quý hỉ tới cửa, thân yêu bạn giúp, mưu cầu như ý.

– Nếu bị khắc hay hợp thành cách hung thì chủ anh em hình thương, lục thân không hợp, thân khốn, chiêu tai nạn.
+ Ví can giờ được thiên bàn sinh hợp thành cách cát thì chủ vợ hiền, sĩ tốt tinh cường, tôi tớ đắc lực.

– Nếu gặp cách hung hay bị xung khắc thì chủ con cái bị hình thương, cha mẹ bất hòa, binh tốt tự loạn, đầy tớ dối chủ.
Khi sáu Canh trên can Năm tháng ngày giờ hay Can Năm tháng ngày giờ bay trên sáu Canh, thì xem sáu Canh trên can thuộc người ở thứ bậc nào, thì biết cát hung thuộc người ấy. Cách cát thì càng cát, cách hung thì càng hung. Anh em không hòa, gia đình nguy khốn.

Nếu xem, can năm, can tháng, can giờ phải xem riêng, không thể lấy 1 dây làm chuẩn, e rằng cát hung không nghiệm.
Lâm cơ ứng dụng
Người là linh của muôn vật, cảm thông mọi sự ứng nghiệm. Ở ta, có lúc động lúc tĩnh, lấy khí vật của người, của việc mà suy ra. Nhà binh được thua, người đời còn mất, vật thành hay bại, đến như xuất xứ (ra quân), hoặc là động chúng (lấy linh), phát ngựa lập doanh, hoặc là việc người được mất, ly hợp, hoặc khí vật (đồ dùng) mà được. Lấy ngày giờ làm đầu. Tìm ngày tra toán. Lợi vào ngày giờ nào mà giao phong được thắng, ngày giờ nào thì bại đến. Phương nào, ngày giờ nào mai phục ở nơi nào. Ngày giờ nào thành công khải hoàn.

Như muốn biết người thọ yểu cùng thông, thì lấy bản mệnh Năm tháng Ngày Giờ điền bổ thì vợ tiền con lộc có thể biết được.
Vật mà phá tổn thành bại, dài lâu hay tạm bợ, lấy ngày giờ được thấy, hoặc ngày giờ phương thấy. Cho đến vật dài ngắn, vuông tròn, hoặc năm hành thuộc phối hợp với độn giáp thì vật khí phá tổn bị ích có thể dự đoán biết.
Như trong quân doanh, cứ có một thấy một nghe hoặc gặp rời đổi, lịch ngay, ơi rụng, trống chiêng các việc, hoặc nghe lời nói thiện ác hoặc thấy cơ trống rách tổn, hoặc chim thú từ phương nào lại, cho đến một thấy một nghe việc quái lạ, đều có thể cho là triệu cát điềm hung.

Hoặc nghe tiếng người nói, bao nhiêu tiếng, bao nhiêu chữ, hoặc chiêng trống có lúc khua loạn nhiều tiếng, hoặc nhạc khí có lúc xa gần vọng lên mấy tiếng, mọi sự vật, một khi mắt trông thấy đều có thể lấy xem. Ứng ở lòng ta, một động phát ra mà biến thong. Chớ có đã xem một lần, lại xem lần thứ hai, đến nỗi cát hung không lấy đâu mà định được. Như đã lấy, mà cát hung không chuẩn, lại lấy một vật khác để xem thì cũng lại không chuẩn. Đó là tâm chưa định được cho nên cát hung không nghiệm.

Như gặp một chữ, một điểm, một vật, một tiếng, một người, một thứ….tức là giờ Tý. 2 là sửu. 3 dần. Như ngày giáp Tý là động lúc giừo Giáp Tý. Nếu số đến 13 thì tức là vòng thứ nhì và là giờ Bính tý. Nếu sô đếm mà nhiều, đều gặp giờ tý, tức là vòng thứ 3, vòng thứ 4, vòng thứ 5. Mậu Tý, Canh tý, Nhâm tý. Số mà nhiều quá 5 vòng thì là Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quý Sửu. Ngàn giờ, vạn giờ đều theo lệ này.

Ví có xuât sứ, nên rõ bản mệnh của quan tỉnh quận và đầu mục lớn nhỏ, thiên tử, hợp thành các cách cát hung, hoặc có thể đi chinh phục, hoặc lợi ở mai phục, hoặc lợi ở xung phong, hoặc lợi cho tiếp ứng, nhìn gần cả mọi người ấy, người nào lợi cho việc làm này, châm trước mà làm thì ba quân lớn mạnh đều không lầm vậy.

Phú: Độn giáp thần cơ

-Lưỡng nghi chủ sử,
Tam tài đã chín.
-Bộ chú hà sai thần quỷ,
Cục thành diệu chỉ thông tri.
-Trước lấy linh văn sách gián,
Chú kinh chỉnh đốn lẽ vi.
-Như khi: Giáp trên Bính, Long hồi thủ đó,
Bính trên giáp, Điểu điệt huyệt vì.
-Hồi thủ thì vui mừng xứng ý,
Điệt huyệt thì hiến bước dễ khi.
-Thân tàn hủy vì Ất trên Tân, Long đào tẩu cách,
Tiền hư hao vì tân trên Ất, Hổ xướng cuồng ghi.
-Quý trên Đinh, Đằng xà yêu kiều, hung đó,
Đinh trên Quý, Chu tước đầu giang, nhiều nguy.
-Sinh lâm Bính Mậu, Thiên độn, dụng binh hay biết mấy,
Ất trên Kỷ đây, Địa độn, yên doanh vững quách trì.
-Canh trên Can ngày là Can phục (Phục can Cách),
Can ngày trên Canh, là Can phi (Phi can cách).
-Trực phù trên Canh, Phục cung cách,
Canh trên Trực phù, Phi cung suy.
-Đại cách khi Canh trên sáu Quý,
Hình cách, Canh trên sáu Kỷ tùy.
-Án trên đây đều là cách xấu,
Muôn công, mưu sự có ra chi.
-Ngũ bất ngộ, Can Nhật khắc Thời, tai hại đến,
Bột nghịch danh, Kỳ Bính trên giờ, họa sở quy.
-Lục nghi kích hình, trăm hung tụ đến,
Tam kỳ đắc sử, mọi thiện quy về.
-Thái Bạch nhập huỳnh, lo khi giặc tới,
Hỏa nhập Kim hương, giặc dữ đã đi.
-Địa la già tề, gặp cách ấy thì đừng có tiến,
Thiên cương tứ trương, gặp bước này hết lời….
-Trực phù cung cùng Thiên ất vi, thì nên giữ,
Như khi cấp nạn, theo trực phù phương mà đi.
-Hai chí thuận nghịch,
Diệu lý huyền vi.
-Dương phù, bên tả là tiến số,
Âm phù, bên hữu là trước ghi.

-Dương chí từ Đông chí, mặt trước là mười hai khí, Trực phù sau một là cửu thiên cung, sau hai là Cửu địa xứ, trước ba là Lục hợp thần, trước hai là Thái âm vị. Âm chí từ Hạ chí, mặt trước có mười hai khí. Trực phù trước một là Cửu thiên xứ, trước hai là Cửu địa cung, trước năm là Lục hợp thần, trước bảy Thái âm thân tùy.
-Thái âm lặn hình mà ẩn giấu,
Lục hợp ẩn thân mà mưu nghi.
-Nơi Cửu thiên nên dương vũ lực,
Dưới Cửu địa có giấu binh uy.
-Thiên Địa thực là khó lượng,
Thần cơ diệu pháp nam truy.
-Học giả muốn khi mưu việc,
Hãy đọc phú này mà suy.

Sách này gọi là Phép Tuyển trạch tam bách, được lấy ra từ Kinh “Đô Thiên hám Long”, 81 luận.

Thái ất Tử vi Cửu tổng bát quái, đó là cốt tủy của trời đất, thần cơ của Tinh đẩu. Tám quái năm biến, kịp tới vô cùng. Năm hành suy đi, ứng ra vô tận. Lấy chín tinh mà suy ra chín Tổng. Lấy 8 môn mà ra tám quái. Trên có thể bổ vào chỗ hóa không toàn của Thiên Địa. Dưới có thể giúp vào công không tới của Mậu thổ. Phù trợ nguy cát, phát mối nảy ngành. Không chỉ có 12 phận tinh đồ, mà còn phối 28 tú cách cục. Cho nên sách này làm ngay chính lại kỷ cương của Trời Đất, làm tỏ rõ ra kinh vỹ của âm dương. U thâm thuận ẩn, hiển đạt nghịch huyền. Thử xem 8 quái môn đình, phối với 9 cung hướng tốt. Suy rời sáu Giáp, khu sử sáu nghi. Vận cục Thiên ất trực phù tinh, chỉ huy Thái ất Trực nhật xứ. Cơ lấy sáu nghi, Ngẫu lấy tám tiết. Trên dưới vời giao, trong ngoài ứng biểu. ba bàn vận cục, 8 quái đều thong. Gặp được cát thì muôn sự đều nên làm. Gặp phải hung thì một phân chớ động đến. Một đó là cả bầu trời 8 quái. Hai đó là vào đất ba nguyên. Ba đó là hành quân ba kỳ. Bốn đó là Tuyển trạch tam bách. Năm đó là độn hình sách Thái bạch. Sáu đó là vào núi lay rồng. Bảy đó là chuyển núi rời biển. 9 chữ kinh nguyên. Tám đó là dựng nước yên dân, muôn năm kinh vàng sáng tỏ. Chín đó là ích cho 9 cung, vào phúc cứu nghèo, sinh tiên sản thánh, biến họa phúc như trở bàn tay. Khiến giàu nghèo tự như quen thói. Ví ba vòng đều gặp kỳ môn thì như rồng giao gặp mây mưa. Thấy Lục hợp mà được cách cục thì như Hổ lang mọc thêm vây cánh. Kỵ thấy hưu tù, phòng khi hình kích. Ví thấy môn kỳ chưa đến, tất nên mở cửa về phương cát thì mọi việc đều nên., môn môn đều cát. Chỉ câu hợp được thức cần, còn phải đem giờ luận xét. Thân Can khôn gtù, Thần chi không khắc, thần che sát lặn (Thần tàng sát một), mới hay muôn việc đều hòa, phản ngâm phục ngâm, định thấy ngàn ương lẩn quất. Kỳ gặp vượng tướng, có thể mưu cho phú quý. Môn gặp Khai Hưu, mới thấy anh hùng ứng vận. Thanh long phản thủ, mới hay nét diệu của Giáp Ất được gặp, bạch hổ xướng cuồng, thấy hung họa của Canh Tân. Nếu gặp Đằng xà yêu kiều, biết điểm chênh vênh của nhâm Quý. Nếu gặp Chu tước đầu giang, thấy được điểm Yêu quái của Bính Đinh.

Phi điểu điệt huyệt, khiến cho trăm việc đều lành, Quý nhân đăng đàn, nắm giữ chín cung đều tốt. Thông huyền cơ mà Trời Đất đều chuyển. Biết diệu dụng mà việc động đều hanh.
Nếu là quan liêu văn võ, nên cho biết chức ngôi hàng thứ. Hoặc là dân lành trò nghèo, đắp mộ phù nguy, tác phú, dựng châu phủ mà yên dân vật thái. Hưng huyện trần mà giấu dư thuế bình. Lập cung thất mà phúc gom người tựa. Làm miếu vũ mà quỷ yên thần thỏa. Cầu quán thuyền ngựa, giếng bếp, đường đi, hoặc các việc làm khác, trong tuyển trạch hiểu đủ. Hoặc có Thái ất tướng quân, đều bày cả đấy, thì 9 lương 7 sát, chẳng dám đương đầu.

Không hỏi vận khí mọi nhà, không siêu(vượt), không khai (mở) phạm phải Không vong cấm sát, mà được cục này, cần phải có Kỳ, mới có thể giữ được ngàn năm, đều vời được trăm phúc. Rất nên động thổ, phá núi, chôn tòng táng tổ. Cầu có Sao Kỳ (Kỳ tinh) đến tòa, môn hộ được khai. Có Long Sơn, tất câu thành Long phản thủ. Có Bạch hổ, tất kỵ Bạch hổ xướng cuồng. Có huyền vũ, nên xa Đằng xà yêu kiều. Có Chu tước, hãy sợ Chu tước đầu giang. Còn như tới lánh, dụng ý phối cầu.
Gặp Phi điểu huyệt, tất có chim lạ điêu lẻ, chim màu sa cánh, chim ưng xúm xít, bỏ rơi chim lạc, hạc cò về với cá lươn, tiền bạc tới kêu, loan bay xúm đậu.

Bốn Trọng đều toàn thì cát. Hai đầu phá hoại thì hung, Quý nhân đăng đàn tất có cờ phướn đưa rước, sấm chớp gió mây, ẩn biến văn thư, chuông vàng thao tía.

Gặp ngày giờ Thanh long phản thủ phải có lân chầu, cá vàng ngoài hang, rắn bay hóa trai, ngựa lồng, sấm vang, lóng lánh bạc vàng, cờ hoa nhuộm sắc, đến ứng giờ ấy, trợ thêm cát, đều có khắc ứng. Hợp với đầu núi, muôn không mất một. Động thì có cát thập toàn. Phân ra đầu mối, chia ra đề cương, bầy ra ngàn mối, thuật rõ nét sâu sa, không phải mưu mẹo mà gặp cát, mà là Trời Đất gieo lành, giúp nước yên bang, tế đãi lợi vật.

Chính, siêu, nhuận, tiếp ca

Giáp Kỷ gặp Trọng là Thượng nguyên,
Gặp Mạnh là Trung, Quý hạ miền. (1)
Năm ngày một nguyên, hai độn trải,
Mười giờ một giáp chuyển cho quen.
Âm Dương hai độn từ hồng tạo,
Tiết Khí chưa về, Phù đã đến.
Giờ chậm, tiết giao, Kỳ chưa tới,
Siêu thần, Tiếp khí thông ảo huyền. (2)
Bốn Trọng chưa về, Tiết đã đến,
Trực phù bản cục vẫn dùng liền.
Tuy nhiên tiết mới về giao khí,
Làm sao bốn trọng đến ngày bên.
Bốn Trọng đến trước, Tiết chưa đến, (3)
Dùng Siêu vào Tiết khí sau liền.
Có khí Siêu quá tuần dư đó,
Đặt thêm cục nhuận để lấp chèn.
Nhuận này phải đặt trước hai đến, (4)
Là khi ngày tích mãi mà nên.
Dương cực, Âm cùng, no đã hết,
Nhân đặt nhuận này khí mới lên.

1.Ngày Giáp Kỷ mà gặp Tý Ngọ Mão Dậu là 4 Trọng, là Thượng nguyên. Gặp 4 Mạnh: Dần Thân Tị Hợi là Trung nguyên. Gặp 4 Quý: Thìn Tuất Sửu Mùi là Hạ nguyên.
2.Ba nguyên có 15 ngày chẵn. Mỗi khí Tiết phần nhiều có trên 15 ngày. Phần dư này làm cho ngày Giáp Kỷ không đến đến vào ngày đổi khí tiết. Phần dư hãy quên đi, cứ dung ngày Giáp Kỷ trong số 15 ngày chẵn mà Tuần tự tính độn. Khi nào, trước Đông chí hay trước Hạ chí, mà số ngày Giáp Kỷ đến trước khí trên 1 tuần tức trên 10 ngày thì đặt một khí nhuận.
3.Bốn Trọng đã đến, mà khí tiết chưa đến. Trường hợp này dùng Siêu thần, nghĩa tuy biết chưa đến mà vẫn độn coi như tiết đến đúng ngày Trọng.
4.Đặt nhuận, chỉ có thể đặt nhuận khí Đại tuyết (trước Đông chí) hay nhuận khí Mang chủng (trước hạ chí) là lúc dương cực âm cùng.

Kỳ Môn Cửu Độn

Kỳ môn chín độn ít ai hay,
Bí bởi tiên kinh huyền ảo thay.

1/Bính hợp Sinh môn, trên Đinh thấy,
Thiên độn, trăng soi sáng tựa ngày.

2/Ất hợp cửa Khai, trên sáu Kỷ,
Địa độn, tinh Nhật che chở hay.

3/Đinh với Hưu môn, Thái âm nữa,
Nhân độn tinh sao chiếu mặt mày.

4/Bính hợp Sinh môn, Cửu Thiên chiếu,
Thần linh (Thần độn) che chở quyền trong tay.

5/Đinh hợp Hưu môn, thêm Cửu địa,
Phục binh, Quỷ độn, lánh cho may.

6/Ất hợp Hưu môn trên nước Khảm,
Giao long (Long độn)vùng vẫy giữa mưa mây.

7/Tân với cửa Sinh trên đất Cấn,
Mãnh hổ (Hổ độn) vào lan vũ lộng oai.

8/Hổ cuồng (Tân trên Ất) mà gặp Đinh Cảnh chế,
Sinh Phong (Phong độn), thượng tướng nển dàn bầy.

9/Long đào (Ất trên Tân) cùng với Đinh và Cảnh,
Vọt qua cửa sấm, thét mây (vân độn) bay.

Thiên độn

Kỳ Bính, cửa Sinh, dưới hợp sáu Đinh, không phạm Kỳ gặp Mộ Hình là được Tinh Nguyệt che trở, trong ứng vào Tâm, ngoài chủ vào Thân. Khí ấy thăng lên trên đẩu, chất ấy chú vào Tâm, tên gọi Nguyên châu. Có thể nghe mà làm việc. Lên trời, lúc có việc, gọi thần Ngọc nữ tên là Đinh Mão thì Thần Mão ấy phù hộ.
Chú rằng: “Hỡi thần Đinh Mão Ngọc nữ, giúp ta, đỡ ta, không để cho Quỷ thương ta. Ngó ta thì mù, ác với ta phải chịu tai ương”.
(Đinh Mão Ngọc nữ, hộ ngã hựu ngã, vô linh hữu quỷ thương ngã. Thị ngã giả cổ, ác ngã giả phản thụ kỳ ương).
Chú xong đi thẳng, chớ có ngoái cổ lại.
Phương này có thể sánh với quyền vị bậc vương hầu, lợi cho triều đình. Quân vương tạ trời. Lễ cầu phúc và lợi cho chính chiến, khiến địch tự phục. Dâng thư hiến kế sách, cầu quan, tiến chức. Tu thân, ẩn tích, phạt ác trừ hung. Mua bán xuất hành, trăm việc đều cát. Hôn nhân, đến ở, đi lại phương này đại cát.

Địa độn

Kỳ Ất, cửa Khai, dưới là sáu Kỷ, được tinh Nhật che chở. Khí ấy vàng. Trong ứng với Tỳ. Ngoài ứng vào hình. Gặp việc gọi lên ứng dụng. Còn tên là Hoàng bà Kim công. Có thể làm được là ở các tiên Nam cung. Khi có việc thì hô Ngọc nữ bản cục, y phép trên mà chú, liền được giúp đỡ. Ra nơi Tử đình, che Kỷ làm Địa hộ. Được tinh Nhật che. Phương ấy có thể giấu binh, nép tướng, đóng trại yên doanh. Dựng phủ làm lâm, đắp vây xây tường, yên mộ khai mỏ, tu tạo cầu tiên. Trốn lẩn, biệt kích, xuất trận công thành, toàn quân thắng lớn. Trăm việc đều cát.

Nhân độn

Kỳ Đinh hợp cửa Hưu, dưới là vị Thái âm, là được tinh sao che trở. Khí này xanh đen. Trong ứng với Thận, ngoài ứng với tai mắt, tên gọi Hoàn Dương Đan. Làm ra thì lưu đời dài năm. Có việc ra ngoài, hô thần Ngọc nữ của bản tuần, như phép trên mà chú.
Phương ấy có thể cầu người hiền, chọn tướng mãnh, thuyết địch, hòa cừu, ba năm đều cát. Lại nên mưu kết, hôn nhân thêm người, hòa hợp giao dịch, lợi chợ gấp mười. Nếu phục binh, hiến kế sách, dâng thư, đều đại cát.

Thần độn

Kỳ Bính, cửa Sinh, dưới là vị của Cửu thiên, là được thần linh che trở.
Phương ấy nên tế thần minh, dùng thuật thánh, vạch đất đặt trù, bước giẫm cương, tạo đàn tràng, chạm khắc quỷ thần, thu quỷ mỵ, tự có uy phục. Lại lợi công hư, giấu của, âm mưu, kế mật, rất là huyền diệu. Mở đường lấp sông, tu sửa thần tượng, bồi đắp nét thần để đợi thần ứng.

Quỷ độn

Kỳ Đinh, cửa Hưu, dưới là vị của Cửu địa, là được Quỷ thần che chở.
Phương ấy có thể thám thính cơ mưu, cướp doanh trại, đặt phục công hư, nhòm mật động tĩnh, trá ngụy văn thư, đẩy cô quả, để đợi quỷ ứng.

Phong độn

Kỳ Bính, cửa Khai, dưới là cung Tốn, không phạm Mộ Bách là được linh kỳ, thuận buồm xuôi gió tiện lợi.
Lại nghi Tâm hợp cửa Sinh, cửa Hưu, dưới là sáu Ất. Phương ấy có thể lặng lẽ hớp khí gió mây, phun lên cờ phướn nhiều lần hoặc gọi Thác dị độn, khiến quân sĩ lặng lẽ nghe âm.
Lại kỳ bính, cửa Khai, trên cung Khôn, nên cầu đảo Phong bá vũ sư, cùng với lũy dịch dụng cờ phướn, để đợi gió ứng.

Vân độn

Kỳ Ất, cửa Khai, ở trên cung Khôn, không phạm Mộ Bách, là được Mây che chở.
Lại Kỳ Ất, cửa Khai, dưới là sáu Tân. Phương ấy có thể lặng lẽ hớp gió mây phun lên giáp mạo, mây xanh nhiều lần, hoặc gọi tên Thác tạ điêu. Khiến quân sĩ ngửa mặt nhìn xem. Lại nên cầu mưa hòa để lợi việc cấy cầy. Dựng doanh trại, làm quân khí để đợi gió mây ứng.

Long độn

Kỳ Ất, cửa Hưu, dưới là sáu Quý, hoặc cung Khảm là được Rồng che chở.
Phương ấy có thể tế Long thần, cầu mưa thuận, thủy chiến, diễn kế địch. Lường mặt sông, giữ việc qua sông, đánh thủy chiến, mật vận cơ mưu, rời thuyền chuyển hướng, thả thuyền, khơi sông, đóng bồn nước, tà đảo quỷ thần, đắp đê, ngăn sông, làm cầu, đào giếng để đợi phong ứng.
Sách Vũ bị chí lại viết là: cửa Hưu với Kỳ Ất tới cung sáu Giáp ở cung Khảm là Long.

Hổ độn

Kỳ Ất, cửa Sinh, trên sáu Tân là được thần Hổ che chở. Còn nói sáu Tân hợp cửa Sinh trên cung Cấn.
Phương này có thể chiêu an đảng nghịch, đặt phục, gọi chiêu, dò nơi yếu hại, tựa nơi hiểm ngăn giữ. Dựng sơn trại, đặt quan ải, phòng hiểm, làm, đào để đợi phong ứng.

Chia sẻ.

Bình luận