Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 3

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 3

1-9 là Tham, Bật, là Nam Bắc quái, phụ mẫu quái
2 là Cự – Giang Tây quái Thiên nguyên Long
3 là Lộc – Giang Tây quái Nhân nguyên Long
4 là Văn – Giang Tây quái Địa nguyên Long
6 là Vũ – Giang Đông quái Địa nguyên Long
7 là Phá – Giang Đông quái Nhân nguyên Long
8 là Phụ – Giang Đông quái Thiên nguyên Long

Nhất vận:
Nhứt vận bát quái là 1 của 1, là Tham Lang, là Nam Bắc bát thần, là phụ mẫu quái.
Thượng quái
☷ ☶ ☵ ☴ ☳ ☲ ☱ ☰

Hạ quái:
☷ ☶ ☵ ☴ ☳ ☲ ☱ ☰

Thành quái:
Khôn Cấn Khảm Tốn Chấn Ly Đoài càn


Nhứt vận Tham Lang quái là quái thứ 1 trong bát quái, cho nên là bát quái 1 của 1. Trong 8 quái này thì quái trên với quái dưới là tương đồng, thuộc bước 1 của bát quái nên thuộc về nhứt vận quái. Tinh danh là Tham lang thuộc Bắc quái, còn gọi là phụ quái, với Nam quái mẫu quái hợp gọi là Nam Bắc phụ mẫu quái

Nhị vận:
Nhị vận bát quái là 2 của 1, là Cự môn, là Giang Tây quái, là Thiên nguyên long, nó từ nhứt vận Tham lang quái biến qua, nên gọi là 2 của 1. Một là nhứt vận Tham Lang quái, hai là nhị vận Cự môn quái
Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☳ ☲ ☱ ☰ ☷ ☶ ☵ ☴

Thành quái:
Vô vọng Cách Khuê Đại tráng Quán Kiển Mông Thăng

Tam vận:

Tam vận bát quái là 3 của 1, là Lộc tồn, là Giang tây quái, là nhân nguyên long. Nó do nhứt vận Tham lang biến qua, nên gọi là 3 của 1. Một là nhứt vận Tham Lang quái, ba là tam vận Lộc Tồn quái.

Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☵ ☴ ☷ ☶ ☱ ☰ ☳ ☲

Thành quái:
Tụng Đại quá Tấn Tiểu quá Trung phu Di Minh sản

Tứ vận

Tứ vận bát quái là 4 của 1, là văn khúc, là Giang Tây quái, là Địa nguyên long. Do nhứt vận Tham Lang biến ra, nên gọi là 4 của 1. Một là nhứt vận Tham lang, bốn là tứ vận Văn khúc quái

Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☶ ☷ ☴ ☵ ☲ ☳ ☰ ☱

Thành quái:
Độn Tụy Đỉnh Giải Gia nhân Truân Đại súc Lâm

Các vận khác cứ thế mà suy

=====================================

Thật ra cái nguồn gốc của 8 cái Kim Long Thủy Khẩu đồ chính là từ 8 Vận của Huyền Không Đại Quái (64 Quái), lấy quẻ Càn đại diện Kim Long, quy tàng cùng các thượng quái mà thành!!!

Sự sắp xếp trong Nguyên Không Pháp giám để nội ngoại thành ngoại nội để cho dễ thấy sự biến đổi của các hào so với quẻ Càn Kim Long . Theo quy tắc thì bản cung là nội quái bất biến.
Nếu quý khách sắp xếp lại thì tất cả đều đâu vào đó.

Vận 1, dùng Kim Long Càn (động 3 hào), quy tàng với các ngoại (thượng) quái biến thành các quái của Vận 9
Vận 2, dùng Kim Long Càn quy tàng với các thượng quái biến thành các quẻ của vận 8.

Đây là quy tắc phu phụ ấy mà!!!
Tiểu Sinh đang cố gắn vẻ thêm mấy cái đồ hình để cho hai con ngươi của mình nó thấy rỏ chút. Hihihihihiihi

Như vậy quy tắc chỉ là lấy vận (8 vận của đại quái) hợp thập của cung toạ (sơn), sau đó tìm quẻ thượng Đoài Tốn, làm thủy khẩu cho bản nguyên, lấy quẻ thượng Chấn Cấn làm thủy khẩu cho ngoại nguyên!!!

Tất cả đều theo cái nguyên lý hợp Sinh Thành theo chử Vạn (thuận đoài nghịch tốn) của nhà Phật . Các bạn xem các đồ sau:
Thượng Nguyên Vận 1,2,3,4
Đỏ: Bản cung (Vận)
Vàng: Bản Nguyên Thủy (Thượng Nguyên)
Xanh: Ngoại Nguyên Thủy (Hạ Nguyên)

Bây giờ ta hãy xem tại sao dùng thượng quái Đoài dùng cho thuận lai thủy.Thượng Đoài lúc nào củng là cập Sinh Thành cùng với thượng Càn không?
Tại sao dùng thượng Chấn cho ngoại nguyên thuận lai thủy?
Bơi vài Đoài và Chấn lúc nào củng nằm cùng nghi (lưỡng nghi, 1672, 9438)
Tại vì Tốn và Cấn lại dùng cho nghịch lai thủy, vì chúng lúc nào củng nằm cùng một nghi (1672, hoặc 9438)
Ta củng biết dịch nói
Càn thống ta dưong (hùng): Chấn Khãm Cấn
Khôn thống ta âm (thư): Tốn Ly Đoài
Theo số Tiên Thiên thì ta có
Càn 9, Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6
Khôn 1, Tốn 2, Ly 3, Đoài 4

Trong 8 Vận của 64 quái, khi ta quy tàng thượng hạ đơn quái với nhau thì kết quả chính là đơn quái của Vận, nghĩa là, 8 quái vận 1 đều là bát thuần, khi quy tàng thượng hạ đều cho ta quẻ Khôn 1, ấy chính là vận 1, bỡi vì quẻ Khôn 3 hào âm, bất biến.
Như Vận 2, khi ta quy tàng thượng hạ quái của 8 quẻ trùng trong vận 2, đều cho ta quái Tốn 2, cho nên 8 quẻ đó thuộc về vận 2. Ta thấy quẻ Tốn, hào hạ âm bất biến, hào giữa và hào thượng là dương hào, cho nên các trùng quái trong vận 2 đều có hào giữa và hào thượng biến (khi so sánh thượng với hạ).
Như Vận 9, thì ta thấy khi quy tàng thượng hạ đơn quái đều cho ra quẻ Càn 9, củng là Vận 9.
Các Vận khác đều như vậy.

Thế tại sao gọi Vận 1 là Phụ và Vận 9 là Mẫu?

Vận 1, 8 quái đều là Bát Thuần, theo quy tắc Dịch và phong tục gia đình đông phương thì đứng đầu trong gia đình là Phụ, mà Vận 1 đều là các quẻ Bát Thuần nên nó là Phụ vậy.
Vận 9, 8 quái đều có 3 hào biến, mà Càn Phụ bị giải phẩu đổi tông từ trong, giữa, tới ngoài (3 hào) thì thanh Mẫu. Hihihihihihi
Vận 1 quy tàng quẻ Khôn, nhưng gọi là Phụ, Vận 9 quy tàng quẻ Càn nhưng lại gọi là Mẫu, có phải là Điên Điên Đảo hông thứa quý khách!!!

Nay lấy Vận 1 là Phụ chúng ta biến lần lượt các hào từ 1 tới 6, sau đó so sánh (hay quy tàng) thượng hạ quái xem nó thuộc Vận nào?
Vận 1:
biến hào sơ, quy tàng thành quẻ Chấn tức Vận 8
biến hào 2, quy tàng thành quẻ Khãm tức Vận 7
biến hào 3, quy tàng thành quẻ Cấn tức Vận 6
biến hào 4, quy tàng thành quẻ Chấn tức Vận 8
biến hào 5, quy tàng thành quẻ Khãm tức Vận 7
biến hào 6, quy tàng thành quẻ Cấn tức Vận 6
A các bạn có thấy Phụ Quái Vận 1 sinh ra Vận 8 quẻ Chấn, Vận 7 quẻ Khãm, Vận 6 quẻ Cấn (quy tàng) hông.

Vận 9:
Thượng Hạ quái của các trùng quái trong Vận 9 đều khác nhau 3 hào (vì là quy tàng quẻ Càn 9 = Vận 9)
3 Hào khác nhau mà biến hào sơ thành ra hào sơ không biến.
biến hào sơ, quy tàng thành quẻ Tốn 2
biến hào 2, quy tàng thành quẻ Ly 3
biến hào 3, quy tàng thành quẻ Đoài 4
biến hào 4, quy tàng thành quẻ Tốn 2
biến hào 5, quy tàng thành quẻ Ly 3
biến hào 6, quy tàng thành quẻ Đoài 4
A các bạn có thấy Mẫu Quái Vận 9 sinh ra Vận 2 quẻ Tốn, Vận 3 quẻ Ly, Vận 4 quẻ Đoài hông?

Ấy thế mới nói Phụ Mầu sinh ra Tam Bang quái mà!!!
Nay nhìn lại cái Bản Tiên Thiên Bát Quái phối Lạc Số nhé:
[4][9][2]
[3][5][7]
[8][1][6]

Bây giờ ta nhảy vào cung giữa, vẻ đường ranh giới dưới số 3 Ly, xuyên qua Trung 5, và trên số 7 Khãm. Ta gọi cái ranh giới này là Giang. Từ trong cái Giang này nhìn ra bên trái thì có Chấn 8, Khôn 1, Cấn 6, Khãm 7 đều là phía Đông, Vận 1 là Phụ, cho nên Vận 8, Vận 7, Vận 6 còn lại đều gọi là Giang Đông Quái. Nhìn ra bên phải thì có Tốn 2, Càn 9, Đoài 4, Ly 3 đều là phía Tây, Vận 9 là Mẫu, cho nên Vận 2, Vận 3, Vận 4 còn lại đều gọi là Giang Tây Quái.
Đặt biện Vận 1 Vận 9 vừa là Phụ Mẫu vừa là Nam (Càn 9), Bắc (Khôn 1) Quái.

Nay ta biết cái gì gọi là Phụ Mầu, Giang Đông và Giang Tây, bây giờ ta thử giải mã mấy câu sau trong Thiên Ngọc Kinh Nội Truyền nhé.

Giang Đông nhất quái tòng lai kiết
Bát thần tứ cá nhất
Giang Tây nhất quái bài long vị
Bát thần tứ cá nhị
Nam Bắc bát thần cộng nhất quái
Đoan đích ứng vô soa.

Giang Đông quái gồm Vận 8, Vận 7, Vận 6, có quy tàng quái là Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6, đều chỉ có 1 hào biến (quy tàng quẻ chỉ có 1 hào dương biến). Mà 8 trùng quái của mỗi vận chỉ có 4 tổ hợp, như sau:
Vận 8 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào sơ (Vận 8 quy tàng quẻ Chấn, hào sơ là dương biến)
Càn Tốn, Tốn Càn
Khãm Đoài, Đoài Khãm
Cấn Ly, Ly Cấn
Chấn Khôn, Khôn Chấn.

Vận 7 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào giữa (Vận 7 quy tàng quẻ Khãm, hào dương giữa biến)
Ly Càn, Càn Ly
Chấn Đoài, Đoài Chấn
Cấn Tốn, Tốn Cấn
Khôn Khãm, Khãm Khôn

Vận 6 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào thượng (Vận 6 quy tàng quẻ Cấn, hào thượng dương biến)
Đoài Càn, Càn Đoài
Chấn Ly, Ly Chấn
Cấn Khôn, Khôn Cấn
Tốn Khãm, Khãm Tốn

Thưa các bạn đây chính là
Giang Đông nhất quái tòng lai kiết,
bát thần (8 quẻ trùng), tứ cá (4 tổ hợp) nhất (chỉ biến 1 hào)

Giang Tây quá gồm Vận 2, Vận 3, Vận 4, có quy tàng quái là Tốn 2, Ly 3, Đoài 4, đều có 2 hào biến.
8 trùng quái của mỗi vận chỉ có 4 tổ hợp:
Vận 2 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào trung thượng (Vận 2 quẻ Tốn, hào trung thượng dương biến)
Chấn Càn, Càn Chấn
Ly Đoài, Đoài Ly
Tốn Khôn, Khôn Tốn
Cấn Khãm, Khãm Cấn

Vận 3 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào sơ thượng (Vận 3 quẻ Ly, hào sơ thượng dương biến)
Khãm Càn, Càn Khãm
Tốn Đoài, Đoài Tốn
Khôn Ly, Ly Khôn
Cấn Chấn, Chấn Cấn

Vận 2 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào trung thượng (Vận 2 quẻ Tốn, hào trung thượng dương biến)
Cấn Càn, Càn Cấn
Khôn Đoài, Đoài Khôn
Tốn Ly, Ly Tốn
Khãm Chấn, Chấn Khãm

Thưa các bạn đây chính là
Giang Tây nhất quái bài long vị,
bát thần (8 quẻ trùng), tứ cá (4 tổ hợp) nhị (biến 2 hào)

Thế tại sao Nam Bắc Bát Thần cộng lại chỉ có 1 quái???

Chia sẻ.