Đặc Tính Cửu Tinh Trong Huyền Không

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Theo trường phái Huyền Không thì mọi sự tương tác của các sự vật – hiện tượng, đều do Cửu Tinh (9 ngôi sao) cai quản và họ dựa trên Cửu tinh để suy luận cát hung. Huyền Không phái hay còn gọi là Huyền Không Phi Tinh, là một trường phái xuất hiện từ lúc nào cho đến nay vẫn chưa thể xác định chính xác được. Theo sự ghi chép của những thư tịch cổ, vào đời Hán, trong “Hán Thư, Văn nghệ chí” người ta thấy có mối quan hệ với các bài ca quyết của Huyền Không phái, được ghi chép vào khoảng đời Đường trở về sau, của các Phong Thuỷ Học như Dương Quân Tùng đời Đường (viết các cuốn: Thiên Ngọc Kinh, Thanh Nang Áo Ngữ, Đô Thiên Bảo Chiếu Kinh), Tăng Văn Sơn đời Đường (viết cuốn Thanh Nang Tự), Ngô Cảnh Loan đời Tống (viết các cuốn Huyền Không bí cấp, Huyền cơ phú) và đến cuối đời nhà Thanh, cuốn Thẩm Thị Huyền Không Học được Thẩm Trúc Nhưng hoàn thiện lại toàn bộ học thuyết và công bố thì mọi người mới được biết rõ ràng. Và theo ghi chép của họ Thẩm trong cuốn sách, thì trường phái này còn có các môn đồ như Vô Cực Tử, Tưởng Đại Hồng, Khương Thổ, Chương Trọng Sơn.

Huyền Không Học cũng lấy Dịch Học làm cơ sở, nguyên lý của nó là vạn vật dịch chuyển không ngừng. ( Khác với trường phái Bát Trạch) Ngoài ra không thể không áp dụng nguyên lý Âm Dương – Ngũ Hành làm cơ sở suy luận. Huyền Không Học còn sử dụng Hậu Thiên Bát Quái, tức sự phân bố bát quái do vua Văn Vương phát minh làm cơ sở.

Huyền Không phi tinh dựa vào tính chất và sự di chuyển của 9 sao (tức Cửu tinh hay 9 số) mà đoán định họa, phúc của từng căn nhà (dương trạch) hay từng phần mộ (âm trạch). Do đó, biết được tính chất của từng sao, cũng như quỹ đạo vận hành của chúng là điều căn bản cần thiết cho tất cả những ai muốn tìm hiểu hay nghiên cứu về Huyền không học. Do vậy, trước khi đi vào những nguyên lý căn bản của Huyền không học , cần phải biết sơ qua về tính chất của Cửu tinh.

Cửu tinh:  Theo Huyền Không phái, Cửu tinh tức là 9 con số, từ số 1 tới số 9, với mỗi số đều có tính chất và Ngũ hành riêng biệt, đại lược như sau: 

***  1 – Nhất Bạch Thuỷ Tinh : Còn gọi là sao Tham Lang: có những đặt tính như sau:

• Về Ngũ Hành: thuộc Thủy
• Về màu sắc: thuộc màu trắng
• Về cơ thể: là thận, tai và máu huyết
• Về người: là con trai thứ trong gia đình.
• Về tính chất: Có Cát và Hung
– Cát: Nếu Nhất Bạch là vượng tinh thì chủ về xuất thần đồng, người tài, văn nghiệp hiển hách, văn thần và vượng cả về nhân đinh và tài lộc.
– Hung: Nếu Nhất Bạch là suy tinh thì chủ về hoạ câm điếc, tạng thận hay các bệnh không sinh đẻ…trộm cướp, tửu sắc, hao tổn về người, tài sản lụn bại.
***  2 – Nhị Hắc Thổ Tinh : Sao Bệnh Phù còn gọi là Cự Môn, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc : thuộc màu đen.
• Về cơ thể: là bụng và dạ dày.
• Về người: là mẹ hoặc vợ trong gia đình.
• Về tính chất: Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Nhị Hắc là vượng tinh thì chủ vượng về nhà cửa ruộng vườn, con cháu đông đúc, phát về võ (có tầm nhìn chiến lược).
– Hung: Nếu Nhị Hắc là suy tinh thì chủ về các bệnh ở bụng, bệnh ngoài da, tỳ vị, hoả tai, ngục hình, bị nữ nhân hay tiểu nhân hãm hại,tai nạn, xuất quả phụ, hao tổn về người, phá sản.
***  3 – Tam Bích Mộc Tinh : Sao Lộc Tồn còn gọi là sao Tam Bích, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Mộc.
• Về màu sắc: thuộc màu xanh lá cây.
• Về cơ thể: mật, vai và 2 tay.
• Về người: là con trai trưởng trong gia đình.
 Về tính chất: Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Tam Bích là vượng tinh thì chủ về sự nghiệp hưng vượng, được phú quý.
– Hung: Nếu Tam Bích là suy tinh thì chủ về các bệnh ở chân, gan, hình ngục, tai nạn, sự nghiệp lụn bại.
***  4 – Tứ Lục Mộc Tinh : sao Văn Khúc còn gọi là sao Văn Xương, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Mộc.
• Về màu sắc: thuộc màu xanh dương (xanh nước biển).
• Về cơ thể: gan, đùi và 2 chân.
• Về người: là con gái trưởng trong gia đình.
• Về tính chất:  Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Tứ Lục là vượng tinh thì chủ về văn tài, công danh hiển hách, nhân đinh tài lộc đều tốt đẹp, vợ hiền, con gái xinh đẹp, văn nghệ giỏi, con gái trưởng phát đạt.
– Hung: Nếu Tứ Lục là suy tình thì chủ về bệnh ở đùi, mật hay bị sẩy thai, dâm loạn, tử sắc, trộm cướp.
***  5 – Ngũ Hoàng Thổ Tinh : sao Chính Quan, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ Hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc: thuộc màu vàng.
• Về cơ thể và con người: không.
• Về tính chất:  Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Ngũ Hoàng là vượng tinh thì chủ về tài lộc nhân đinh đều vượng, phú quý song toàn.
– Hung: Nếu Ngũ Hoàng là hung tinh thì chủ về bệnh tỳ vị, vàng da, ung nhot, trúng độc, dâm ô nặng hơn hao người tốn của, phá gia bại sản.
***  6 – Lục Bạch Kim Tinh : sao Vũ Khúc, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Kim.
• Về màu sắc: thuộc màu trắng, bạc.
• Về cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già.
• Về người: là chồng hoặc cha trong gia đình.
 Về tính chất:  Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Lục Bạch là vượng tinh thì chủ về giầu có, đông con nhiều cháu, quý hiển và có quyền hành về võ nghiệp.
– Hung: Nếu Lục Bạch là suy tinh thì chủ về bệnh ở đầu, phổi, xương cốt. Bị trộm cướp, ngục hình, cô độc hay tổn đinh.
***  7 – Thất Xích Kim Tinh : sao Phá Quân, có những đặt tính sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Kim.
• Về màu sắc: thuộc màu đỏ.
• Về cơ thể: phổi, miệng, lưỡi.
• Về người: là con gái út trong gia đình.
• Về tính chất:  Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Thất Xích là vượng tinh thì chủ về tài đinh đều vượng, võ nghiệp phát, người con gái thứ phát đạt.
– Hung: Nếu Thất Xich là suy tinh thì chủ về các bệnh miệng, cổ, phổi. Hao tổn nữ đinh, trộm cướp, ngục tai, hoả tai, tiền bạc nhân đinh đều tổn hại.
***  8 – Bát Bạch Thổ Tinh : sao Tả Phụ, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc: thuộc màu trắng.
• Về cơ thể: lưng, ngực và lá lách.
• Về người: là con trai út trong gia đình.
• Về tính chất:  Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Bát Bạch là vượng tinh thì chủ phát về ruộng đất nhà cửa, phát nhân đinh tài lộc, xuất trung thần, phú quý, trường thọ.
– Hung: Nếu Bát Bạch là suy tinh thì chủ về các bệnh ở tay, đầu, mũi, xương sống, tỳ vị, thần kinh, gân. Hao tổn nam đinh, tiền tài.
***  9 – Cửu Tử Hoả Tinh : sao Hữu Bật, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Hỏa.
• Về màu sắc: màu đỏ tía.
• Về cơ thể: mắt, tim, ấn đường.
• Về người: con gái thứ trong gia đình.
 Về tính chất: Có Cát và Hung.
– Cát: Nếu Cửu Tử là vượng tinh thì chủ vượng nhân đinh tài lộc, văn tài trung hiếu, quý hiển trường thọ.
– Hung: Nếu Cửu Tử là suy tinh thì chủ về các bệnh về mắt, tim, máu huyết, vô sinh, tuyệt tự, hoả tai, hao tổn tài lộc.
*** Việc ứng dụng những hiểu biết về Phong thuỷ vào thực tiễn, còn đòi hỏi chúng ta có sự tổng hợp, đúc kết những tinh hoa của các trường phái với nhau, để có sự lựa chọn hợp lý nhất cho mỗi trường hợp hay con người cụ thể.

 

Sưu Tầm

Chia sẻ.

Bình luận