PHƯƠNG PHÁP LẬP TINH BÀN

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

      Nói tới Huyền Không, hình ảnh đầu tiên người ta nghĩ tới là một Tinh Bàn 9 ô, với những con số từ 1 tới 9, gọi là Phi Tinh.  Tinh Bàn là “hạ tầng cơ sở” của Huyền Không.  Không có Tinh Bàn thì chẳng có gì để nói.   Cũng vậy, Người muốn thâm nhập vào lĩnh vực Huyền Không mà không nắm vững tinh bàn thì coi như chưa biết gì

                     Xác định Tọa – Hướng nhà:
Trước tiên xác định độ số (Toạ độ của hướng nhà) mà ta đã đo, áp dụng vào sơ đồ của ngôi nhà.
Ta cần nắm vững Lường Thiên Xích: Là hướng bay của cửu tinh khi có một sao nhập trung cung
Lường Thiên Xích có Thuận và Nghịch ( Xem bài Lường Thiên Xích)

Dựa Theo Hậu Thiên Bát quái tìm Sơn & Hướng:
Hậu thiên bát quái được chia thành tám hướng đều nhau, mỗi hướng chiếm 45 độ trên la bàn và đi với một số của cửu tinh:

Hướng BẮC (số 1),

ĐÔNG BẮC (số 8),

ĐÔNG (số 3),

ĐÔNG NAM (số 4),

NAM (số 9),

TÂY NAM (số 2),

TÂY (số 7) ,

TÂY BẮC (số 6).

Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa – Gọi là Trung Cung
Mỗi hướng lại chia thành 3 sơn, mỗi sơn chiếm 15 độ:
– Hướng BẮC (số 1):     Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
– Hướng ĐÔNG BẮC (số 8):  3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
– Hướng ĐÔNG (số 3):          3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
– Hướng ĐÔNG NAM (số 4)  3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
– Hướng NAM (số 9):             3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
– Hướng TÂY NAM (số 2):     3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
– Hướng TÂY (số 7):              3 sơn CANH–DẬU–TÂN
– Hướng TÂY BẮC (số 6):      3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI
Độ số chính giữa của mỗi sơn: sơn NHÂM tại 345 độ;TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ; Độ chính giữa (+)(-) 3 độ thì gọi là chính hướng. Còn (+)(-) trên 3 độ thì gọi là kiêm hướng.
Tam nguyên long:
Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long
***  THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn :
* 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
* 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
***  ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
* 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
* 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
***  NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
* 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
* 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.
Dựa vào tính chất âm dương của tam nguyên long mà ta sẽ biết được lường thiên xích đi thuận hay đi nghịch.
Phương pháp lập tinh bàn:

***  Có 9 Mục cấu thành Tinh Bàn:

– Vận Tinh

– Hướng Tinh

– Sơn Tinh

– Lạc Thư

– Hướng Cổng

– Lưu Niên Phi Tinh

– Nguyệt Tinh

– Nhật Tinh

– Thời Tinh.

1 – Vận bàn ( Vận tinh ):
Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên.

Mỗi nguyên lại chia làm 3 vận. Mỗi vận là 20 năm
– Thượng Nguyên gồm:  Vận 1, 2, 3. Tổng cộng là 60 năm
– Trung nguyên gồm :     Vận 4, 5, 6. Tổng cộng 60 năm
– Hạ nguyên gồm :          Vận 7, 8, 9. Tổng cộng 60 năm
Tổng 3 nguyên là 180 năm. Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên.
Chúng ta đang sống trong hạ nguyên;
– Vận 7 từ 1984 đến 2003
– Vận 8 từ 2004 đến 2023
– Vận 9 từ 2024 đến 2043
Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận. Thí dụ: Nay ta đang ở vận 8. Lấy 8 nhập trung cung bay thuận ta được vận bàn.

2 – Hướng bàn ( Hướng Tinh ): Sau khi có vận bàn ta lấy số ở hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy.
Thí dụ: Nhà tọa Càn hướng Tốn, Hướng có sao số 7, lấy 7 nhập trung cung, Tốn là thiên nguyên long.

Thiên nguyên long của 7 là Dậu, Dậu tính chất là Âm nên 7 bay nghịch ( thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh )
3 – Sơn bàn ( Sơn Tinh )“Sơn” chỉ khu vực sau nhà, tức phương toạ. Lấy số của vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái. Xem phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào?

Thí dụ: Toạ càn thuộc thiên nguyên long. Tiếp theo coi số của vận tinh thuộc tam nguyên long đó tính chất âm dương là gì? Nếu là dương thì theo lường thiên xích thuận còn nếu là âm thì theo lường thiên xích nghịch.

Thí dụ: Ở Vận 8 thì vận tinh tại càn là 9. Thiên nguyên long của 9 là ngọ, tính chất của ngọ là âm . Vậy 9 nhâp trung cung bay nghịch.

 Tóm tắt
– lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.
– Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.
– Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận.

       – Còn lại các phần Nguyệt – Nhật – Thời Tinh………  sẽ phân tích sau.

THỰC HÀNH

Khi đã biết cách xác định nhà (hay mộ) thuộc Vận nào, thì mới có thể lập tinh bàn cho căn nhà (hay phần mộ đó). Nhưng trước hết lấy 1 tờ giấy trắng vẽ 1 ô vuông lớn, sau đó chia ô vuông đó ra làm 9 ô nhỏ, với 8 ô chung quanh tiêu biểu cho 8 hướng: BẮC, ĐÔNG BẮC, ĐÔNG, ĐÔNG NAM, NAM, TÂY NAM, TÂY, và TÂY BẮC. Riêng ô giữa được coi là trung cung. Sau đó mới có thể tiến hành việc lập tinh bàn như sau:
                 Đầu tiên Lập Vận bàn 
Muốn lập Vận bàn thì lấy số của Vận mà căn nhà (hay ngôi mộ) đó thuộc về, đem nhập trung cung, an ở giữa  trung cung, rồi di chuyểnTHUẬN theo vòng Lượng thiên Xích.( Vận bàn chỉ đi thuận, không đi nghịch)
Thí dụ  Nhà xây năm 1984 tức thuộc Vận 7. Như vậy, lấy số 7 nhập trung cung, sau đó theo chiều thuận an số 8 tại TÂY BẮC, số 9 tại TÂY, số 1 tại  ĐÔNG BẮC, số 2 tới NAM, số 3 tới BẮC, số 4 tới TÂY NAM, số 5 tới ĐÔNG, số 6 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số đó đều được gọi là “Vận tinh” (tức phi tinh của Vận) của căn nhà này, và đều được an ở chính giữa mỗi cung. Điều nên nhớ khi lập Vận bàn là phi tinh chỉ di chuyển  “THUẬN”, tức là đi từ số nhỏ lên số lớn, chứ không bao giờ di chuyển “NGHỊCH” từ số lớn xuống số nhỏ hơn. 
                Tiếp theo Lập Sơn bàn
Theo thuật ngữ của Phong thủy, “Sơn” (có nghĩa là núi) dùng để chỉ khu vực phía sau nhà (tức phương “tọa”). Cho nên sau khi đã an Vận bàn thì nhìn xem số nào tới khu vực phía sau của căn nhà. Lấy số đó đem nhập trung cung, nhưng để tại góc trên mé bên trái của vận bàn. Lúc này cần phải biết tọa của căn nhà thuộc sơn nào, rồi phối hợp với Tam Nguyên Long của Vận tinh tới phương tọa, để quyết định di chuyển theo chiều “THUẬN” hay “NGHỊCH”.
Thí dụ  Như căn nhà có hướng là 0 độ thì phương tọa của căn nhà sẽ là 180 độ (vì tọa bao giờ cũng xung với hướng, tức là cách nhau 180 độ). Như vậy căn nhà này sẽ là tọa NGỌ hướng TÝ. Nếu xây năm 1984 tức thuộc Vận 7, nên lấy số 7 nhập trung cung di chuyển Thuận như đã nói ở trên thì 2 tới NAM tức phương tọa của nhà này. Bây giờ muốn lập Sơn bàn thì phải lấy số 2 nhập trung cung (để ở góc trên, mé bên trái), nhưng muốn biết nó sẽ xoay chuyển “THUẬN” hay “NGHỊCH” thì phải coi xem Tam Nguyên Long của số 2 là gì? Vì số 2 ( tức hướng TÂY NAM ) tây nam có 3 sơn là MÙI-KHÔN-THÂN,với MÙI thuộc âm và KHÔN-THÂN thuộc dương trong Tam nguyên Long. Mà tọa của căn nhà là nằm nơi chính NAM. Hướng NAM cũng có 3 sơn là BÍNH-NGỌ-ĐINH. Vì trong Vận 7, số 2 tới phía NAM, nên lấy 3 sơn MÙI-KHÔN-THÂN của số 2 áp đặt lên 3 sơn BÍNH-NGỌ-ĐINH của phương này. Nhưng vì chính tọa của căn nhà là nằm tại sơn NGỌ, tức là trùng với sơn KHÔN của số 2. Vì sơn KHÔN là thuộc Dương trong Tam Nguyên Long, cho nên mới lấy số 2 nhập trung cung rồi di chuyển theo chiều “THUẬN”, tức là số 3 tới TÂY BẮC, số 4 tớiTÂY, số 5 tới ĐÔNG BẮC, số 6 tới NAM, số 7 tới BẮC, số 8 tới TÂY NAM, số 9 tới ĐÔNG, số 1 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số này đều được gọi là “Sơn tinh” (tức phi tinh của phương tọa) của trạch vận, với sơn tinh số 6 nằm tại phương tọa (tức phía NAM) của căn nhà này. Mọi Sơn tinh đều được an tại góc phía trên bên trái của mỗi cung, để tiện phân biệt giữa chúng với “Vận tinh” Và “Hướng tinh”.
Lập Hướng bàn
Sau khi đã lập xong “Sơn bàn” thì bắt đầu tới việc lập Hướng bàn. Việc lập Hướng bàn cũng tương tự như việc lập Sơn bàn, tức là tìm “Vận tinh” tới phía trước nhà là số nào? Lấy số đó đem nhập trung cung, nhưng để nơi góc phía trên mé bên phải. Sau đó cũng phải xác định hướng của căn nhà là thuộc sơn nào? Rồi phối hợp với Tam nguyên Long của Vận tinh tới hướng mà quyết định di chuyển “THUẬN”hay “NGHỊCH”.
Cho nên nếu vẫn lấy thí dụ là căn nhà tọa NGỌ hướng TÝ, nhập trạch trong Vận 7 như ở trên thì sẽ thấy Vận tinh số 3 tới hướng. Vì số 3 thuộc phía ĐÔNG, gồm 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT, với GIÁP thuộc dương, còn MÃO- ẤT thuộc âm trong Tam Nguyên Long. Còn hướng nhà nằm về phía BẮC, cũng có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ. Đem áp đặt 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT của số 3 lên 3 sơn NHÂM-TÝ-QUÝ của phía BẮC, nhưng vì chính hướng của căn nhà là thuộc sơn TÝ, tức trùng với sơn MÃO của số 3. Vì sơn MÃO thuộc âm trong Tam nguyên Long, cho nên lấy số 3 nhập trung cung rồi di chuyển theo chiều ”NGHỊCH”, tức là 2 tới TÂY BẮC, 1 tới TÂY, 9 tới ĐÔNG BẮC, 8 tớiNAM, 7 tới BẮC, 6 tới TÂY NAM, 5 tới ĐÔNG, 4 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số này đều được gọi là “Hướng tinh” (tức phi tinh của Hướng) của trạch vận, với hướng tinh số 7 nằm ở hướng, nên trong Vận 7 thì nhà này được “vượng tinh tới hướng” nên được xem là 1 nhà tốt. Tất cả những Hướng tinh đều được an tại góc phía trên mé bên phải của mỗi cung.
Như vậy, sau khi đã lập “Vận bàn”, “Sơn bàn” và “Hướng bàn”, chúng ta sẽ xác định được vị trí của mọi Vận tinh, Sơn tinh và Hướng tinh. Đây chính là trạch vận của 1 căn nhà hay 1 phần mộ. Như vậy, 1 trạch vận gồm có 3 tinh bàn: Vận bàn, Sơn bàn và Hướng bàn. Kết hợp nó với địa thế chung quanh và cấu trúc bên trong của 1 căn nhà, người học Phong thủy Huyền Không sẽ có thể phán đoán chính xác mọi diễn biến tốt, xấu đã, đang và sẽ xảy ra cho căn nhà đó.
Sau cùng, điều mà người học Huyền Không cần nhớ là khi muốn lập Sơn bàn hay Hướng bàn, thì nếu tọa hay hướng nhà mà trùng với “sơn” DƯƠNG của Vận tinh thì di chuyển “THUẬN”, nếu trùng với “sơn” ÂM của vận tinh thì di chuyển “NGHỊCH”. Tức là sự di chuyển “THUẬN” hay “NGHỊCH” của sơn và Hướng tinh là hoàn toàn do“SƠN” của Vận tinh trùng với tọa và hướng nhà là DƯƠNG hay ÂM mà thôi. Ngoài ra, chỉ có việc lập tinh bàn cho Sơn và Hướng bàn mới có trường hợp phi tinh di chuyển theo chiều “NGHỊCH”. Còn tất cả các trường hợp khác thì phi tinh đều di chuyển theo chiều “THUẬN” tức là từ số nhỏ lên số lớn hơn

Thế quái

Khi nhà bị lệch (+)(-) Trên 4 độ cho tới dưới 7 độ thì phải dùng thế quái để lập tinh bàn.
Phương pháp lập tinh bàn thế như sau:
–  Lập vận bàn.
–  Tam nguyên long của sơn hoặc hướng là gì?
–  Coi số của vận bàn tại phương toạ hoặc hướng thuộc tam nguyên long đó gốc là gì?
Thí dụ: toạ càn vận 7. Càn là thiên nguyên long. Bát (8) đáo toạ, thiên nguyên của 8 là cấn
– Không dùng 8 nhập trung cung mà dùng số thế theo bài khẩu quyết của Khương Nghiêu:
Bốn sơn : Tí Quí Giáp Thân, dùng sao Tham Lang (1) thay thế
Năm sơn : Nhâm Mão Ất Mùi Khôn, dùng sao Cự Môn (2) thay thế
Sáu sơn : Tuất Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ, dùng sao Vũ Khúc (6) thay thế
Năm sơn : Tân Dậu Sửu Cấn Bính, dùng sao Phá Quân (7) thay thế
Bốn sơn : Ngọ Đinh Dần Canh, dùng sao Hữu Bật (9) thay thế
Thí dụ : theo thí dụ trên thì thiên nguyên của 8 là cấn, dùng phá quân (7) thay thế. Vậy lấy 7 nhập trung cung. Cấn dương nên đi thuận.

Trong trường hợp này ta thấy có một số sơn phải dùng thế mà không thế. Thí dụ : sơn Tý thế bằng 1 thực ra số của sơn Tý cũng là 1.
Ngoại trừ các sơn thế mà không thế ra ta còn:
Hai sơn : Giáp Thân, dùng sao Tham Lang (1) thay thế
Ba sơn : Nhâm Mão Ất, dùng sao Cự Môn (2) thay thế
Hai sơn : Tốn Tỵ, dùng sao Vũ Khúc (6) thay thế
Ba sơn : Sửu Cấn Bính, dùng sao Phá Quân (7) thay thế
Hai sơn : Dần Canh, dùng sao Hữu Bật (9) thay thế
Tóm tắt:
Để dễ nhớ thế quái ta thuộc bài thơ sau:
Cửu, Canh Dần
Nhất, Giáp Thân
Nhị, Nhâm Mão Ất
Lục, Thìn Tốn Tị
Thất, Sửu Cấn Bính
Tức là:
Số 9 thế cho Canh Dần
1 thế cho Giáp Thân………………….
Thí dụ: Số ở hướng là 3 lại ở địa nguyên long. Địa nguyên long của 3 là Giáp. Vậy số thế cho Giáp là 1.   Các cung khác không có trong bài thơ này tức không có số thế. Thí Dụ:Số 6 ở thiên nguyên long. Thiên nguyên long của 6 là Càn. Càn không có số thế nên vẫn lấy 6 nhập trung cung bay thuận.
*** Lập tinh bàn cho nhà kiêm 7 độ hoặc 7,5 độ
       Đối với trường hợp hướng nhà lệch 7 độ hay 7 độ rưỡi thì không thể dùng tinh bàn của 1 hướng được nữa, mà phải lập tinh bàn cho cả 2 hướng. Cho nên ngoại trừ những hướng kiêm giữa quẻ Phụ mẫu (Thiên) với Thuận tử (Nhân) ( dùng thế quái như kiêm 5 độ) ra, còn những hướng kiêm khác đều sẽ xuất hiện 2 hướng tinh và 2 sơn tinh tại mỗi cung của địa bàn, nếu hướng nhà đó kiêm trên 7 độ.
Nói rỏ hơn là nếu kiêm 7 độ trừ trường hợp kiêm giữa thiên và nhân nguyên long ( vì 2 tinh bàn này là 1) ra ta phải lập tinh bàn thế quái cho cả hai hướng
Dưới đây là trạch vận căn nhà toạ nhâm hướng bính kiêm 7 độ vận 3
…..2 ………..7 ………….9
…7 .8 …….3. 3 ……….5. 1
…9 .6 …….4. 2 ……….2. 4

…..1 ………..3 ………….5
…6 .9 ……..8 .7 ………1 .5
…1 .5 …………………..6 .9

…..6 ………..8 ………….4
…2 .4 ……..4 .2 ………9 .6
…5 .1 ……..3 .3 ………7 .8
(Chú ý vì tọa-hướng nhà nằm giữa các sơn NHÂM-BÍNH – TÝ-NGỌ, nên khi lập trạch vận thì đem những vận tinh tới tọa và hướng nhập trung cung, xong xoay chuyển theo cả 2 chiều thuân-nghịch cho phù hợp âm-dương với 4 sơn NHÂM-BÍNH – TÝ-NGỌ. Do đó, tại mổi khu vực sẽ có 2 Sơn tinh và 2 Hướng tinh và dĩ nhiên là phải dùng thế quái cho cả hai).

Sưu Tầm

Chia sẻ.

Bình luận