KHAI MÔN ĐIỂM THẦN SÁT

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

1. Bước 1:
Đo toạ hướng của nhà, hướng của cửa (môn khí, đo từ tâm nhà đến tâm của cửa)
lấy phân kim theo vòng 60 thấu địa long.
2. Bước 2:
Trên địa bàn, theo Can của toạ sơn dùng “Ngũ hổ độn” để nạp Can cho 12 địa chi.
3. Bước 3:

Căn cứ vào Can Chi phân kim của hướng cửa (đại môn), an các thần sát cho 12 chi, nạp âm theo Can Chi của thần sát là hành của nó.
4. Bước 4:
Đặt Can Chi của môn khí vào trung cung chạy thuận đến Can Chi của các thần sát.
Ví dụ 1: Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Tốn (Tân Tị)
Đặt Tân Tị vào trung cung chạy thuận đến Can Chi của địa bàn (bảng trên), các Can Chi rơi vào cung nào an thần sát tương ứng tại đó.
Ví dụ 2:Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Tị (Ất Tị)
Đặt Ất Tị vào trung cung chạy thuận đến Can Chi trong bảng trên, các Can Chi rơi vào cung nào,
an thần sát tương ứng tại đó.
Ví dụ 3: Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Mùi (Đinh Mùi)
Đặt Đinh Mùi vào trung cung chạy thuận đến Can Chi trong bảng trên, các Can Chi rơi vào cung nào, an thần sát tương ứng tại đó.

Ý NGHĨA CỦA THẦN SÁT

Đại môn là nơi hoạ phúc tiến vào hoặc ra đi, là nơi động khí, nơi âm dương ngũ khí gặp nhau mà tạo cát, hung: “Hoạ tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập” nghĩa là mọi tai hoạ bệnh tật đều do từ miệng mà ra. Có thể nói rằng cát hung, hoạ phúc của dương trạch đa phần có liên quan đến khẩu môn mà điều đó con người có thể tạo ra được thông qua phép khai môn thụ khí. Từ đó có thể cải tạo và quyết định vận mệnh của mình.
Trong các số nội san chúng tôi đã và đang lần lượt đăng các cách cục của Khai môn- Nghệ thuật điểm
thần sát trong đó đã tính sẵn các vị trí của Âm dương Quý nhân, Thiên lộc, Thiên mã, Thiên hình, Đào hoa, Đại sát, Độc hoả. Để giúp thêm những kiến thức cần thiết cho độc giả trong quá trình sử dụng và tra cứu, bắt đầu từ số này chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp thêm phần ý nghĩa của Thần sát.

THIÊN LỘC

Lộc là phương Lâm quan của Tuế can, tính của ngũ hành, Lâm quan tối cát. Lâm quan là thời đương thịnh, đang lên phơi phới là đúng đạo sinh thành gần tới vượng mà là lộc, bởi vượng thì thái quá. Đạo của càn khôn là cái gì cực thịnh tất suy, chỉ có cái gần tới vượng mới là thế đi lên vì vậy mà lấy Giáp lộc ở dần, ất lộc ở mão, Bính Mậu lộc ở tị, Đinh Kỷ lộc ở ngọ, Canh lộc ở thân, Tân lộc ở dậu, Nhâm lộc ở hợi, Quý lộc ở tý, đó chính là lấy Lâm quan làm lộc vậy.

Lộc cách là cách có Lộc ra chính môn. Nhà có cách này là cát khánh, rất tốt. Lộc ra chính môn sẽ đem lại nhiều sự may mắn về tiền bạc, gia sản tăng tiến, điền trang hưng vượng. Thường sinh người béo tốt, thông minh tuấn tú lại khéo léo, tài năng, giỏi kinh doanh, làm ăn tấn phát. Tuy nhiên cũng cần phải ra sinh vượng lộc, tránh không vong tử tuyệt, nếu ngộ không vong tử tuyệt thì khí tán không tụ là vô dụng, có lộc cũng như không, tài sản dù có như núi rồi cũng tiêu tán hết, gọi là tuyệt lộc. Nếu gặp thoái khí thì mặc dù vẫn phát đạt, nhưng con trai thì tài hoa mà kiêu ngạo, con gái nhỏ thì khả ái nhưng ngỗ nghịch, trong gia đình hay sinh nội loạn, cãi vã, cả ngày ồn ào khiến mọi người bất yên.

Lộc cung là cát cung vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ, nhà bếp, phòng khách, phòng làm việc, bàn thờ, giường ngủ, tất cả được lộc đều tốt. Tuy nhiên Lộc phải cư đúng cung Tài là Lộc cư Lộc vị mới thật sự đắc cách, mới thật sự tốt đẹp vậy.

Thiên Mã

Mã là ngựa trời, lấy tam hợp cục của địa chi gặp xung khắc làm mã. Như Dần Ngọ Tuất tam hợp cục hoá hoả, lấy Thân là vị trí ra của thuỷ cục là hoả thuỷ giao chiến, lại Dần Thân tương xung mà làm mã. Thân Tý Thìn tam hợp cục hoá thuỷ, lấy Dần là vị trí ra của hoả cục là thuỷ hoả giao chiến lại Dần Thân tương xung mà làm mã. Tị Dậu Sửu tam hợp cục hoá kim, lấy Hợi là vị trí ra của mộc cục là kim mộc tương tranh, lại Tị Hợi đối xung mà làm mã. Hợi Mão Mùi tam hợp cục hoá mộc, lấy Tị là vị trí ra của kim cục là mộc kim tương khắc, lại Tị Hợi đối xung mà làm mã. Vì vậy mà nói mã chủ trạng thái động, là tượng của sự thay đổi, bôn tẩu.

Mã ra chính môn thì gia trạch luôn gặp sự may mắn, tin vui ngất trời, phát tài nhanh chóng, mọi công việc đều trôi trảy thuận lợi, thường sinh người thông minh, nhanh nhẹn, khôi ngô tuấn tú lại hay xuất ngoại ra ngoài ăn ra làm lên. Tuy nhiên cũng như Lộc, Mã cần phải gặp sinh vượng, tránh không vong tử tuyệt, gặp sinh vượng thì tốc phát lại sinh người thông minh cao quý, trí lự, thông biến, bình sinh nhiều danh vọng. Gặp không vong tử tuyệt thì giang hồ, bôn tẩu nơi xa để mưu sinh, tha phương cầu thực, công danh thì thăng giáng thất thường, sự nghiệp thì long đong lận đận lại dễ gặp tai nạn về chân tay, công việc thì có đầu không có đuôi, thành công ít mà thất bại thì nhiều. Gặp thoái khí lại ra cung đoài trực cùng đào hoa thì âm thịnh dương suy, con gái dễ phát sinh dâm loạn, con trai chơi bời nghiện ngập, tiêu tán tổ nghiệp, bại hoại gia phong.
Mã cung là cát cung, vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ, phòng khách, phòng làm việc, cầu thang, bàn thờ đều rất tốt. Chỉ có giường ngủ của nữ lưu không nên đặt tại Mã cung, nữ giới có giường ngủ đặt tại mã cung thì tâm bất an, không ở yên một chỗ, là tượng bất lợi vậy.

Quý Nhân

Quý nhân Thiên ất là vị thần đứng đầu cát thần, hết sức tĩnh mà có thể chế ngự mọi chỗ động, chí tôn mà có thể trấn được phi phù; Quý nhân một ngày hai mặt âm dương chia nhau trị nội ngoại theo quy luật tương khắc của sự phối hợp can chi. Lấy Sửu mùi là cửa xuất nhập của quý nhân, nên giáp mậu ra tại sửu mùi, sửu mùi là thuần thổ nên phải phối Giáp với Mậu là mộc thổ tương khắc. Lấy ất Kỷ ra tại Tý Thân, ất là mộc,Tý là thuỷ, Thân là kim, là kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc nên phải phối ất với Kỷ là mộc thổ tương khắc. Lấy canh tân ra Ngọ Dần, Lấy Bính Đinh ra Hợi Dậu là hoả kim tương khắc. Lấy Nhâm Quý ra Mão Tị là thuỷ hoả gia tranh. Hai vị trí Thìn Tuất là vị trí của Thiên la, Địa võng nên Quý nhân không ra.
Lại có thuyết nói rằng âm dương Quý nhân là căn cứ vào Khôn quái ra vào hậu tiên thiên mà thành. Dương Quý nhân khởi ở Khôn tiên thiên mà đi thuận, Âm Quý nhân khởi ở Khôn hậu thiên mà đi nghịch. Như dương Quý khởi ở khôn tiên thiên, tức là lấy Giáp ra vào Tý, Giáp hợp với kỷ cho nên Kỷ dùng Tý làm Quý nhân thuận hành, vì thế lấy ất ra Sửu. ất hợp canh cho nên Canh dùng Sửu làm Quý nhân. Sau cứ theo thứ tự mà tính. Thìn là Thiên cương, Tuất là Hà khôi Quý nhân không ở; Ngọ với Tý tương xung nhau không dùng. Âm Quý khởi ở Khôn tiên thiên, tức là lấy Giáp gia vào Thân, Giáp hợp với Kỷ, nên Kỷ dùng Thân làm Quý nhân. Âm quý nghịch hành nên lấy ất ra Mùi. ất hợp Canh nên Canh dùng Mùi làm Quý nhân; sau cứ theo thứ tự nghịch hành mà ra vào. Như gặp Thìn, Tuất, Dần thời vượt qua. Người xưa nói rằng: ” Sửu Mùi là cửa xuất nhập của Thiên ất Quý nhân ” chính là theo quy luật của âm dương để xếp bày đức của thiên can Mùi đủ là Quý thấm sâu được sự phối hợp hài hoà của âm dương cho nên cực kỳ cát khánh, có thể giải hung ách vậy.

Nhà có chính môn ra Quý là đại cát khánh, gia đạo bình an, hoà thuận, hỉ khí đầy nhà, luân gặp may mắn. Quý nhân là sao cứu trợ, là thần giải trừ tai ách nên nhà ra Quý là gặp việc có người giúp, gặp tai ách có người giải cứu, gặp hung hoá cát. Sự nghiệp thì hiển vinh, công danh sớm đạt, dễ thăng quan tiến chức, học hành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp. Quý nhân gặp sinh vượng thường sinh người hiếu lễ, khôi nguyên, tướng mạo phi phàm, tính tình nhanh nhẹn, lý lẽ phân minh, không thích mẹo vặt, thẳng thắn mà ôn hoà, khôi ngô tuấn tú. Nếu ngộ không vong tử tuyệt thì nguồn phúc giảm đi nhiều, hoặc nếu có mắc tai nạn cũng khó tránh bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực, người và gia súc bị tổn hại, kiện cáo, thị phi, lại hay sinh người tính tình cố chấp, bảo thủ mà xuất đời vất vả không nên người. Quý nhân ra thoái khí nếu lại ngộ đào hoa nữa thì nam nữ tuy thông minh tuấn tú, nhưng nam thì hiếu sắc, nữ thời dâm đãng, ham chơi làm bại hoại gia phong, lại hay mắc bệnh tật và trong nhà dễ có người tự ải đầu hà, hay tự vẫn vì tình.

Quý nhân là cát khí rất tôn quý nên ra vào cung nào cũng rất tốt. Cửa phụ, phòng khách, phòng làm việc, cầu thang, bàn thờ, buồng ngủ đều nên chọn cung ra Quý. Đặc biệt bàn thờ nên đặt cung có âm Quý nhân là đại cát khánh, như thế sẽ luân được âm linh phù trợ. Chỉ lưu ý là phòng tắm, nhà vệ sinh thì tuyệt đối không thể đặt nhầm vô cung Quý nhân, nếu không thì hoạ hại liên miên, nữ nhân thiếu máu, động thai, sinh con dù có xinh đẹp nhưng rồi cũng dấn thân vào con đường ô nhục, làm điếm cuối cùng tự vẫn, tài sản tiêu tán, yêu ma hoành hành, gia đình có người bị cướp bóc, chém giết máu me thảm khốc, bệnh tật, đau khổ triền miên, tiếng khóc than ai oán. Có thể nói rằng nếu để nhầm nhà vệ sinh vào cung ra âm quý nhân thì sẽ gặp tai hoạ khủng khiếp khó mà lường trước được vậy.

Thiên Hình

”Kim cương, hoả cường đều giữ phương của nó. Mộc rụng quay về cội, thủy chảy hướng tới mùi ”
Kim hoả cương cường, thuỷ mộc nhu nhược, vì vậy kim hình phương kim, hoả hình phương hoả, cương cường tất tự sát. Mà kim chẳng cương ở Dậu, hoả chẳng cường ở Ngọ, thì là tự sát ở bản phương mà còn tự sát thân đó cũng là nói cương cường thì hình tại vượng. Lấy Tị Dậu Sửu hình Thân Dậu Tuất thì Tị hình Thân, Sửu hình Tuất, Dậu chuyển ra tự hình. Lấy Dần Ngọ Tuất hình Tị Ngọ Mùi thì Dần hình Tị, Tuất hình Mùi, Ngọ chuyển ra tự hình đều là giữ phương của nó. Thuỷ mộc nhu nhược tất bị giết ở nơi sinh ra với chỗ sinh ra cũng tức là thuỷ sinh mộc mà hình mộc, mộc sinh ở thuỷ mà hình thuỷ, cửa sinh ra ta là cửa ta chết. Lấy Hợi Mão Mùi hình Hợi Tý Sửu thì Mão hình Tý, Mùi hình Sửu, Hợi chuyển ra tự hình. Hợi là gốc rễ của mộc, cho nên mộc rụng quay về gốc rễ. Lấy Thân Tý Thìn hình Dần Mão Thìn thì Thân hình Dần, Tý hình Mão, Thìn chuyển ra tự hình. Thìn là thuỷ khố, cho nên nước chảy hướng về Mùi.

Chính môn ra Hình thì hại vô cùng vì Hình chủ tù ngục, kiện tụng là tượng của sự chém giết, mổ sẻ, châm chích. Hình ra môn thì gia đạo thường xuyên gặp hoạ, tai bay vạ gió từ đâu kéo đến, những người sống trong nhà này tuổi thọ bị triết giảm, trong người hay phải mang thương tật lại dễ sẩy ra kiện tụng, hay những việc liên quan đến ngục hình, trai khắc vợ, gái sát chồng. Hình ra môn cũng thường sinh ra người tính khí hung bạo, liều lĩnh, bướng bỉnh, ngang ngạnh và gian trá, lại hay mang tật trong mình, lớn nên ắt phá tán tổ nghiệp, phải xa hương mưu thực

Có thể nói rằng Thiên Hình ra cung nào cũng hung, nếu nó thất hãm còn đỡ chứ miếu vượng thì vô cùng nguy hiểm. Giường ngủ hay bàn học của con trẻ nếu để cung Thiên Hình thì học tài thi phận, học hành dù có giỏi giang, sáng dạ mà thi cử không may, điểm số không cao tương sứng với học lực. Thiên Hình đóng ở cầu thang mà gặp Mã thì là Mã què chủ gặp vướng mắc khó khăn trong công việc, nhất là những công việc liên quan đến giấy tờ, thủ tục hành chính. Nếu Hình vượng thì còn chủ hay bị tai nạn giao thông, hay những tai nạn thương tích đến chân tay. Hình Lộc đi cùng nhau thì chủ hay bị mất cắp, hoặc làm ăn đổ bể, thất tài, phá sản, hoặc do làm ăn bất chính mà phải dính dáng đến pháp luật. Tóm lại cung ra Tuế hình chỉ nên đặt nhà vệ sinh hay phòng tắm để yểm trấn là tốt nhất khi ấy Thiên Hình không còn hiệu lực phát tác trở thành vô hại.

Đại Sát

Đại sát là sát của âm khí, đó là đặc biệt độc. Thường đóng ở tứ quý. Đất của Tuế sát không thể phạm vào, phạm vào tất thương tổn.
Theo thuyết tam tài thì thiên lấy 1 mà tròn, địa lấy 2 mà vuông, nhân lấy 3 mà là góc. Một sinh hai, hai sinh ba, đến chỗ ba mà vạn vật sinh thành. Tròn mà vuông ba góc xuất ra ở đó. Như vậy thì trời đất hết sức giản dị lấy chỗ cùng cực thì hết sức u thân huyền diệu suy ra đến hết chỗ kín đáo của thiên hạ. Như vậy thì ba góc là tâm của thiên địa, khởi đầu của âm dương, chỗ hội tụ của quỷ thần, tú khí của ngũ hành. Như vậy là tam hợp, chỗ tối trọng của thần sát, tam hợp tất ở ba góc vậy. Trong tam hợp Dần Ngọ Tuất thành hoả cục mà Dần la đầu, Sửu đóng ở trên Dần, ấy là dựa vào đỉnh đầu của nó mà đè xuống, Dần bị đè nén cho nên lấy Sửu là Tuế sát. Tam hợp Thân Tý Thìn thuỷ cục mà Thân là đầu, Mùi đóng ở trên Thân, ấy là dựa vào đỉnh đầu của nó đè xuống, Thân bị Mùi đè nén nên lấy Mùi là Tuế sát. Tam hợp Tị Dậu Sửu kim cục mà Tị là đầu, Thì đóng ở trên Tị, ấy là dựa vào đỉnh đầu của nó mà đè xuống, Tị bị Thìn đè nén nên Lấy Thìn làm Tuế sát. Tam hợp Hợi Mão Mùi mộc cục mà Hợi là đầu, Tuất đóng ở trên Hợi, ấy cũng là dựa vào đỉnh đầu của nó mà đè xuống, Hợi bị Tuất đè nén nên lấy Tuất làm Tuế sát.

Nhà có chính môn ra Sát là vào cách hung hoạ nhất, chủ tai nạn chết chóc, ốm đau bệnh tật, ly tán, cô quả, tai nạn giáng xuống liên miên, nặng thì mất mạng toàn gia và cái chết đến một cách rất thê thảm, khủng khiếp, nhẹ thì cũng quan trường bãi miễn, gia sản lụn bại, bần cùng. Tuế sát ra môn cũng thường sinh ra người yểu tử ( hữu sinh vô dưỡng) hoặc sinh ra người tính tình ương ngạch, hiếu thắng, hung tợn, nham hiểm, bất nhân, nhưng có óc kinh doanh, thủ công, kỹ nghệ. Tuy nhiên vẫn suất đời vất vả, thường mắc nhiều tai ách và chẳng làm nên công cán gì. Loại nhà này chẳng thể ở lâu phải mau chóng sửa trị kịp thời.

Cũng như Thiên Hình, Đại Sát là một sao đại hung hoạ nên ra vào cung nào cũng hung, giường ngủ hay bàn học của con trẻ nếu để cung Đại Sát ra sinh vượng khí thì học tài thi phận, học hành dù có giỏi giang, sáng dạ mà thi cử không may, điểm số không cao tương sứng với học lực. Nếu lại ra tử tuyệt thì lười biếng, ham chơi lại hay nói dối trá và tất nhiên là lực học yếu kém. Đặc biệt tối kỵ đặt bàn thờ vô cung ra Đại Sát nếu không sẽ có người điên khùng hoảng loạn. Người điên khùng ở đây có thể do ốm đau, tai nạn mà thành tâm thần, nhưng cũng có thể có triệu trứng như bị ma làm, tức là bệnh trạng không rõ ràng rất là kỳ lạ. Cũng có thể sinh ra người cờ bạc, nghiện hút, hay đang hiền lành ngoan ngoãn bỗng trở nên đổ đốn, hư hỏng; hoặc nặng hơn là trong nhà sẽ có người tự vẫn. Cung ra Đại Sát chỉ có thể đặt nhà vệ sinh hay phòng tắm được mà thôi.

Độc Hoả

Độc hoả là khí hoả thịnh vượng, là hoả khí do sự biến đổi của âm dương tạo ra, nó chính là khí Liêm trinh nên mang nhiều sát khí.
Thông thư nói rằng: Như Tý thuộc Khảm, đối cung là Ly, tức là lấy Ly làm quẻ của bản cung, một hào dưới biến là Cấn là Liêm trinh, vì vậy Tý lấy Cấn làm Độc Hoả. Sửu Dần đều thuộc Cấn đối cung là Khôn, tức là lấy Khôn làm quẻ bản cung, đổi một hào dưới biến thành Chấn, nên Sửu Dần đều lấy Chấn làm Độc Hoả. Mão thuộc Chấn đối cung là Đoài, Đoài là bản cung của Mão, biến hào sơ thành Khảm, nên Mão lấy Khảm làm Độc Hoả. Thìn Tị đều thuộc Tốn đối cung là Càn, tức là lấy Càn làm quẻ bản cung, biến hào sơ thành Tốn, nên đều lấy Tốn làm Độc Hoả. Ngọ thuộc Ly đối cung là Khảm, Khảm là bản cung của Ngọ, biến hào sơ thành Đoài, nên Ngọ lấy Đoài làm Độc Hoả. Mùi Thân đều thuộc Khôn đối cung là Cấn, tức là lấy Cấn làm quẻ bản cung, biến hào sơ thành quẻ Ly, nên đều lấy Ly làm Độc Hoả. Dậu thuộc Đoài đối cung là Chấn, Chấn là bản cung của Dậu, biến hào sơ thành Khôn, nên Dậu lấy Khôn làm Độc Hoả. Tuất, Hợi đều thuộc Càn đối cung là Tốn, tức là lấy Tốn làm quẻ bản cung, biến hào sơ thành quẻ Càn, nên đều lấy Càn làm Độc Hoả.

Tý Ngọ Mão Dậu là tứ chính, Dần Thân Tỵ Hợi là Tứ ngung nên lấy Dần là chính khí của Cấn, Mão là chính khí của Chấn, Tị là chín khí của Tốn, Ngọ là chính khí của Ly, Thân là chính khí của Khôn, Dậu là chính khí của Đoài, Hợi là chính khí của Càn, Tý là chính khí của Khảm.

Độc hoả lâm môn thì hoả khí vượng khiến dễ bị hoả tai lại hay bị hoả khí bốc lên đầu mà sinh ra bệnh tật, và dẫn dắt những người sống trong nhà này sự sự hồ đồ, lỗ mãng. Độc hoả lâm môn lại cũng hay sinh ra những người nóng tính hung bạo, liều lĩnh, thích làm ra những chuyện rồ rại, ngông cuồng. Độc hoả dù ngũ hàn là hành gì thì cũng là đới hoả, khí hoả làm chủ mà hoả khắc kim tiền nên Độc hoả lâm môn cũng đồng nghĩa là thoái tài, nghèo khổ.

Độc hoả là hung tinh nên ra vào cung nào cũng không tốt, tuy nhiên Độc hoả là hung tinh nhưng không phải là Đại hung tinh như là Đại sát, Thiên hình nên chỉ có ra cửa hay ra bếp, bàn thờ mới thật sự là hung cần phải kiêng tránh còn những trường hợp khác có thể châm trước. Bàn thờ và nhà bếp là hai cung phát hoả nên không nên đặt bàn thờ và bếp vào cung Độc hoả.

CÁCH ĐẶT BẾP
5. DI YÊN HẠ HOẢ (Phép đặt bếp)

(1) Vị trí đặt bếp (chiếm 5 điểm):
Chọn các cung tốt trong cửu cung (Lộc, Mã, Quý Nhân. Chưa có gia đình có thể đặt ở Đào hoa, Thiên Mã).
(2) Đặt bếp tại các cát sơn (chiếm 3 điểm):
(a) Đặt bếp theo vòng lục diệu:
Nhất long, Nhị Vũ, Tam Âm, Tứ Hổ, Ngũ Xà, Lục Trận
Trong đó Nhất Long, Tứ Hổ là cát các cung còn lại là hung.
Theo toạ sơn của nhà để tính, không căn cứ vào toạ sơn của phòng bếp. Trường hợp bếp nằm thành nhà riêng tách rời độc lập, khác mái với nhà thì tính cung của nhà bếp riêng (cũng chia nhà bếp thành 9 cung và tính toán như tính với một cái nhà). Vị trí của nhà bếp nằm riêng này căn cứ vào toạ, hướng của nhà chính để chia thửa đất thành 9 cung và chọn cung tốt về huyền không và không có các thần sát xấu mà dựng bếp.
Cách tính:
Nhà toạ NHÂM, TÝ, BÍNH, NGỌ, GIÁP, MÃO, CANH, DẬU khởi Nhất Long
tại NHÂM TÝ, sau chạy thuận cứ hai sơn một cung Nhị Vũ, Tam Âm, Tứ Hổ, Ngũ Xà, Lục Trận
Nhà toạ CẤN, DẦN, KHÔN, THÂN, TỐN, TỊ, CÀN, HỢI khởi Nhất Long tại QUÝ SỬU.
Nhà toạ ẤT, THÌN, CANH, TUẤT, QUÝ, SỬU, ĐINH, MÙI khởi Nhất Long tại CÀN HỢI.
Đông tứ mệnh đặt Nhất long tốt hơn.
Tây Tứ mệnh đặt Tứ hổ tốt hơn
Ngoài ra còn dùng kết hợp cung Phi mệnh chủ với cửu cung của 24 hướng để tìm thêm các vị trí tốt xấu của bếp (Sự kết hợp này giúp chúng ta sử dụng trong trường hợp không tìm được vị trí Nhất Long, Tứ Hổ phù hợp khi xây sửa nhà, hoặc kết hợp cả hai để lấy cái tối ưu)
– Nhâm, Thìn, Ngọ, Đinh, Thân thuộc Khảm
– Tý, Dần, Bính, Tân, Tuất thuộc Ly
– Quý, Khôn thuộc Khôn
– Sửu, Ất, Tị, Canh thuộc Đoài
– Cấn, Dậu thuộc Cấn
– Giáp, Mùi, Hợi thuộc Chấn
– Mão, Tốn thuộc Tốn
– Càn thuộc Càn
Nếu đặt bếp, mệnh trạch chủ phối với khu vực đặt bếp ra:
– Sinh khí là Phúc tinh Tốt nhất
– Phục vị là Quý tinh Tốt nhất
– Thiên y là Thọ tinh Tốt thứ 2
– Diên niên là Tài tinh Tốt thứ 3
– Lục Sát là Sát tinh Xấu
– Ngũ Quỷ là Hao tinh Xấu
– Tuyệt mạng Xấu
– Hoạ hại Xấu
Bếp ra Phúc tinh: là tốt nhất, vị trí này phù hợp với bếp có Mộc dưỡng Hoả như nguồn dưỡng mệnh. Nếu lại được âm dương Quý nhân hợp cách nữa thì có thể chế ngự được hung sát, tăng cường phúc khí cho ngôi nhà.
Bếp ra Quý tinh: cũng như Phúc tinh, Quý tinh có Mộc khí nuôi dưỡng táo hoả quý hoá như viên ngọc châu gia truyền linh bảo trong nhà. Nếu được cùng âm dương Quý nhân hợp cách nữa thì chủ quý hiển vinh hoa, giải trừ hung hoạ, chế phục cát tinh. Nếu đã đủ các yếu tố đã nêu mà lại ra vào cung tử tức nữa thì là phép dùng hoả cầu tự.
Phép này các bậc tiền nhân đã dùng, linh diệu thật khó lường.
Bếp ra Thọ tinh: tức phép lấy chân hoả hậu thiên bổ khuyết cho hoả hầu tiên thiên mà kéo dài tuổi thọ. Phép này nếu được cùng với thái cực Đào hoa ra vào cung Diên thọ là cầu thọ pháp.
Bếp ra Tài tinh: là vị trí được đánh giá thấp nhất trong 4 vị trí cát, nó chủ về phát tài lộc. Lấy tài tinh là dùng nguyên lý “Ngã khắc giả vi tài”, dùng hoả đốt chảy nguyên tinh chân phách mà dẫn nhập thành tài. Nói cách khác là cách này dùng chân hoả hậu thiên hỗ trợ đốt chảy nguyên tinh (phách) của chính mình mà dẫn nhập biến thành tài.
Cũng tựa như một người hút lấy tuỷ cốt của mình để mà ăn. Tài quá vượng thì tự đốt cháy hết phách, con cháu không được nhờ, không được hưởng gì.
(3) Hướng cát theo vòng du niên bát biến ( cùng với kỵ ở dưới thì đạt 2 điểm):
So mệnh chủ nhà với hướng bếp (từ sau bếp nhìn tới
trước), được Sinh Khí, Thiên y, Diên niên là tốt. Trường hợp vợ
chồng Đông Tây tứ trạch khác nhau thì có thể lấy hợp với vợ để
san sẻ cái tốt cho vợ, nhất là đối với người vợ nhiều bệnh tật.
(4) Kỵ:
– Kỵ đặt bếp tại vị trí Hoàng tuyền, Bát sát.
– Kỵ bếp trực xung với cổng và cửa nhà: chủ về hao tài, sinh ra ăn uống tụ tập, trẻ em lười học.
– Kỵ thuỷ hoả tương xung: bếp cạnh nước, hoặc trên hoặc dưới nơi chứa nước (cách khoảng 80cm là được).
– Kỵ xú uế: chủ trong nhà có bệnh tật, ốm đau, sức khoẻ kém (nhà có mùi không khí tanh khoảng 10 đến 30 ngày dễ có tang).
– Kỵ bị thực khí xung xạ đè nén (trên có dầm nhà, góc chéo dưới gầm cầu thang, góc nhọn chiếu vào bếp…): chủ nhà bế tắc không hanh thông.
(5) Những vị trí cần phải kiêng tránh đặt bếp:
Nhà toạ Càn kiêng đặt bếp tại Bính.
Nhà toạ Cấn kiêng đặt bếp tại Ất.
Nhà toạ Đoài, Khôn kiêng đặt bếp tại Quý.
Nhà toạ Chấn, Tốn kiêng đặt bếp tại Canh.
Nhà toạ Khảm, Ly kiêng đặt bếp tại Giáp.
(Mệnh chủ, hướng nhà cũng nên kiêng như vậy)

6. TRẤN TRẠCH:

(1) Trấn hướng nhà không hợp:
Hướng nhà không hợp mệnh dùng bếp để trấn. Dùng hướng cát của bếp (là chiều từ bếp nhìn ra ngoài).
Hướng nhà Tuyệt mệnh dùng táo quay hướng Thiên y.
Hướng nhà Ngũ Quỷ dùng táo quay hướng Sinh khí.
Hướng nhà Hoạ hại, Lục sát dùng táo quay hướng Diên niên.
Mức độ trấn tuỳ thuộc sự sinh vượng của Thiên y, Sinh khí, Diên niên. Dùng hướng bếp so với sơn chủ và mệnh chủ.
Ví dụ: Sơn chủ (lưng nhà) Tốn hướng Càn, mệnh Tốn. Bếp quay hướng Bắc (Khảm) kết hợp với được Sinh khí mộc. Sinh khí được Khảm thuỷ sinh.
Ví dụ: Mệnh Khảm.
Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Chấn là Thiên y (thổ).
Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Tốn là Sinh khí (mộc).
Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Ly là Diên niên (kim).
Dùng khí tạo ra bởi hướng bếp với với mệnh chủ (cùng Đông Tây): Sinh khí Mộc), Thiên y (Thổ), Diên niên (Kim) so sánh với quẻ của sơn chủ (lưng nhà)
Ví dụ: Mệnh Tốn.
Phương Khảm (1) sinh khí.
Sơn chủ (lưng nhà) Càn (6) 1 + 6 = Thuỷ hợp với Tốn mộc
2 + 7 = Hoả
3 + 8 = Mộc
4 + 9 = Kim
6 + 1 = Thuỷ
Ví dụ: Ly mệnh, nếu lưng nhà là Cấn (hợp thành Ngũ quỷ) đặt bếp Chấn (hợp thành Sinh khí)
giáng Ngũ quỷ, tốt vì 8 + 3 = Mộc. So sánh: Mệnh Ly Hoả. Khí bếp Sinh khí Mộc. Sơn chủ Cấn Thổ. Vì
Thổ của Cấn sinh mộc (8 + 3 = Mộc) làm cho mộc tiên thiên càng vượng. Nếu lưng nhà Khôn thì bị khắc
thực sự.
(2) Trấn cửa không hợp cách (theo vòng Phúc đức gặp phải sao xấu):

PHÉP DI YÊN HẠ HOẢ:

– Nhâm, Thìn, Ngọ, Đinh, Thân thuộc Khảm
– Tý, Dần, Bính, Tân, Tuất thuộc Ly
– Quý, Khôn thuộc Khôn
– Sửu, Ất, Tị, Canh thuộc Đoài
– Cấn, Dậu thuộc Cấn
– Giáp, Mùi, Hợi thuộc Chấn
– Mão, Tốn thuộc Tốn
– Càn thuộc Càn
Ví dụ: Nhà toạ Canh hướng Giáp. Bếp đặt tại Quý sơn. Mệnh chủ là nam sinh năm 1973 (Ly).
Quý sơn đặt bếp thuộc quẻ Khôn Lục sát
Mệnh chủ là Ly Phục vị
Sơn Quý nơi đặt bếp thuộc quẻ Khôn
(nếu di chuyển thì là sơn nơi mới đến)
Nhà toạ Canh theo cách tính vòng Lục Diệu thì bếp Quý rơi vào Nhị Vũ (xấu)
Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Minh Di chi Khôn ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Dự
Khôn với Chấn tạo thành khí Hoạ hại, không đẹp. Quẻ Dự thì chỉ vui vẻ là chính
Vì bếp đặt như vậy không đạt nên phải di chuyển.
(a) Cấp độ 1: (Đưa bếp về Nhất Long hay Nhị Vũ… để tân táo hợp với mệnh chủ)
Lần đầu chuyển chỉ cần chọn ngày đẹp như thông thường
Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Minh Di chi Hoả ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Giải.
8 = × vậy sau 72 ngày thì việc chuyển tới nơi mới của bếp mới có hiệu lực,
lúc đó mới có thể chuyển dịch tới nơi khác nếu muốn.
(b) Cấp độ 2: (Để tạo ra quẻ lục hào là khí cát, có tác dụng chế cửa bị ra sao xấu của
vòng Phúc đức)
Sau 72 ngày chọn ngày đẹp để chuyển bếp

* Phương án thứ nhất là chuyển về Bính (thuộc quẻ Ly) là nhất Long

ÁP BẠCH XÍCH

(Dựa trên thước huyết thống)
Định nghĩa: Là phương pháp xác định kích thước kiến trúc kết hợp giữa bát quái cửu
cung ngũ hành và gang huyết thống của gia chủ.
Áp bạch xích gồm 2 loại thước:
– Xích bạch (尺白).
– Thốn bạch (寸白).
Đơn vị đo lường thông thường:
– 1 trượng = 3,333m
– 1 xích (thước) = 0,333m
– 1 thốn = 0,0333m
Với đơn vị này thì có 4 loại thước Lỗ Ban như sau:
– Loại 1 (loại 39): 1 thước = 390mm (dùng cho âm phần)
– Loại 2 (loại 42): 1 thước = 429mm (dùng dương trạch)
– Loại 3 (loại 48): 1 thước = 480mm
– Loại 4 (loại 52): 1 thước = 520mm
Loại 39 và 42 hiện đang được dùng phổ biến ở miền Bắc Việt nam dưới dạng thước chế sẵn do Đài Loan sản xuất.
Loại 52 ở miền Nam hay dùng.

 

ST

Chia sẻ.

Bình luận