Tứ trụ là gì?

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Tứ trụ là 4 trụ, mỗi trụ bao gồm một cặp can chi. Can chi ở đây là theo THIÊN CAN và ĐỊA CHI. Thiên Can đại diện cho trời, Địa Chi đại diện cho đất.
Tứ trụ được coi là một môn khoa học dựa trên Bát Tự và có nguồn gốc xuất xứ từ Trung hoa. Theo đó các yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh theo âm lịch, gọi là “Tứ Trụ”.
Kết hợp với đại vận, lưu niên để luận đoán mức độ cát hung, họa phúc của đời người. Trong đó, đại vận là vận hạn trong 10 tính theo trụ tháng và lưu niên là năm hiện tại ví dụ Lưu niên Kỷ Hợi 2019.
Sự tương tác giữa các trụ và nguyên tắc chung khi xem tứ trụ
Để xem và biết chính xác về vận mệnh của một người như thế nào cần phải nắm vững ý nghĩa của từng trụ cũng như sự tương tác, phối hợp giữa các Trụ qua tổng hợp cách nhìn khác nhau. Dựa vào cung và mỗi trụ là một cung, qua lục thân, qua can, chi, qua ngũ hành.

Tứ Trụ Tử Bình

Tứ Trụ Tử Bình

Tứ trụ được tính theo 4 yếu tố:
Trụ Năm
Trụ năm xác định “mệnh năm, hay đại mệnh, hay mệnh”, ví dụ trường lưu thuỷ, đại lâm mộc,… (trong lục thập hoa giáp). Năm là thái tuế, họa phúc một đời của người đó.
Trụ năm là cung chủ về ông bà, cha mẹ, tổ nghiệp, hay là cung phúc đức. Muốn biết trụ năm mạnh hay yếu, phải:
– Lấy lệnh tháng để đo vượng, suy
– Xem quan hệ sinh khắc lẫn nhau giữa Can và Chi năm:
+ Tương sinh (ví dụ: Giáp Ngọ, Mậu Thân): Tốt. Cha mẹ hoà thuận, gia đình êm ấm, thịnh vượng.
+ Tương khắc (ví dụ: Nhâm Ngọ, Giáp Thân): Bất lợi cho cha mẹ.
Can khắc chi: không lợi cho mẹ.
Chi khắc can: không lợi cho cha.
Nếu trong tứ trụ không có gì chế ngự hoặc giải cứu sự xung khắc đó mà ngược lại còn phù trợ cho lực Khắc thì càng tai hại: cha mẹ chia lìa hoặc 2 người sớm chết 1 người.
Ngang hoà, cùng khí âm dương (ví dụ Mậu Thìn, Nhâm Tý…): phần nhiều cha mẹ bất hoà; việc nhà sóng gió, gia nghiệp khó khăn.
Trụ Tháng
Trụ Tháng là cung Huynh đệ (anh, chị, em), nhưng có quan điểm cho là trụ tháng chủ về cha mẹ, dùng để dự đoán về anh em về cha mẹ.
Nếu can chi tháng tương sinh cho nhau; hoặc can tháng gặp vượng địa, lại được những trụ khác (năm, ngày, giờ) đến sinh trợ, không bị xung khắc phá hại: anh em hòa thuận.
Nếu can tháng bị khắc hoặc can chi tháng khắc nhau: anh chị em không nương tựa nhau, hoặc bất hoà, hoặc mỗi người đi một ngả.
Ngoài vai trò của Cung, chi tháng còn có vai trò rất quan trọng trong tất cả các khoa bói toán của Trung hoa (tử vi, bốc Dịch, Tử Bình). Nó ấn định mùa, tiết khí, và quyết định sự vượng, suy của một (ngũ) hành nào đó.
Lệnh THÁNG nắm quyền chủ thể sinh sát của cả một tháng, nên nó vô cùng quan trọng. Không biết được Lệnh THÁNG thì không có cách gì đo lường được sự VƯỢNG – SUY của tứ trụ, tức là không thể quyết đoán được sự chính xác của thông tin dự đoán.
Ðể đo lường vượng suy của tất cả những thứ trên, phải lấy Lệnh THÁNG làm tiêu chuẩn kết hợp với CAN liên hệ, và lấy “Sinh Vượng Tử Tuyệt” làm căn cứ để xác định.
Trụ ngày
Như đã biết can ngày là nhật nguyên, là mệnh chủ, là Thân. Tất cả đều xoay quanh nó để tạo ra khoa Tử Bình.
Từ CAN ngày (là TA) mà xác định lục thân hay 10 Thần; Lục thân do thiên can biểu thị, và được xác định do quan hệ sinh khắc của từng can trụ (yy,mm,hh) đối với CAN NGÀY; sẽ xét kỹ trong chương 10 Thần, hay lục thân.
CAN ngày là mệnh chủ, là TA. Ngày là chủ của cả đời người, là mảnh đất cát hung họa phúc của cả cuộc đời. Do đó sự sinh, vượng, hưu tù, suy, nhược của trụ ngày quan hệ đến vận mệnh tiền đồ suốt cả cuộc đời.
– Nếu sinh vượng : giống như thân thể khỏe mạnh, có thể thắng của cải, đề kháng sự sát hại, bảo vệ được lục thân, thông minh, tháo vát, nuôi dưỡng được gia đình, gặp việc phần nhiều biến hung thành cát.
– Nếu suy nhược, hưu tù : giống như người yếu, bệnh nhiều, tinh Thần bạc nhược, không thể bảo vệ được của cải của mình; chắc chắn là xấu nhiều tốt ít, làm việc gì cũng không thành.
– Nếu trung hoà là quý, mạnh thì tốt, yếu thì xấu (phải cân ngũ hành) nhưng nếu vượng quá hoặc yếu quá: xấu nhiều hơn.
Then chốt của phương pháp dự đoán mệnh theo tứ trụ là phải xác định được nhật chủ (Can ngày) vượng hay nhược, rồi nhờ đó ta mới xác định được Dụng Thần, hỷ Thần, kỵ Thần. Ðược 3 yếu tố này, nhất là Dụng Thần, ta mới có thể kết hợp với vận trình để phán xét các vận là tốt, xấu, hay bình thường ; tức là những điểm chính yếu (mạch chính) của một mệnh, trước khi đi vào chi tiết rườm rà.
Khi đã nắm được mạch chính rồi thì bạn có thể dựa vào đó mà đoán, không sợ sai; còn không nắm vững được Vượng Suy thì vận lúc nào tốt, lúc nào xấu cũng không biết; dù bạn có nói đúng cũng chỉ là may mắn “chó ngáp táp phải ruồi” mà thôi.
Trụ ngày là cung hôn nhân: Can ngày là mình, chi ngày sát cánh bên can ngày, vậy cũng là vợ (hoặc chồng)
– Can chi cùng sinh cho nhau : vợ chồng hòa thuận;
– Chi sinh can : nam lấy được vợ hiền giúp đỡ, nữ được chồng tốt giúp sức.
– Can sinh chi : nam yêu vợ, nữ giúp chồng;
– Can chi tương xung, tương khắc : có nguy cơ vợ chồng xa nhau; tượng hôn nhân muộn.
– Can chi tương khắc nặng: không ly hôn cũng chết một trong hai.
– Can chi có cùng (ngũ) hành : tượng bất hoà.
Trụ giờ
Trụ giờ là cung con cái:
– Sinh vượng: con cái thịnh vượng, thân thể khỏe mạnh, đẹp đẽ, thông minh, tiền đồ rộng mở.
– Hưu tù, tử tuyệt: con cái tai nạn nhiều, hoặc chết yểu.
– Trụ giờ sinh phù trụ ngày: con nhiều mà trung hiếu, về già được nhờ, bình yên, êm ấm.
– Trụ giờ xung trụ ngày: con nhiều nhưng bất hiếu, về già cô độc, tình thân bạc bẽo.
Giờ là quan tả hữu của ngày, ngày là vua, giờ là Thần :
– Ngày giờ tương sinh , tương hợp : như vua tôi hoà hợp.

– Giờ bổ trợ cho ngày ở chỗ: có thể sinh trợ cho ngày; có thể trợ giúp hỉ thần hay dụng thần trong cách cục; có thể chế ngự kỵ thần trong cách cục; nếu không thì không làm tròn vai trò bổ

Chia sẻ.

Bình luận