CÁC BỘ SÁCH KINH ĐIỂN TRONG PHONG THỦY

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +
CÁC BỘ SÁCH KINH ĐIỂN TRONG PHONG THỦY
Phong Thủy Thăng Long

1. “Trạch Kinh”: một tập đại thành tư liệu còn lại

Qua tư liệu, ta thấy có nhiều người biên soạn Trạch Kinh, như Hoàng đế trạch kinh, Văn Vương trạch kinh, Khổng Tử trạch kinh, Huyền Nữ trạch kinh, Tư Mã Thiên Sư trạch kinh, Hoài Nam Tử trạch kinh, Vương Vi trạch kinh, Tư Tối trạch kinh, Lưu Tấn Bình trạch kinh, Trương Tử Hàn trạch kinh, Lý Thuần Phong trạch kinh, Lã Tài trạch kinh. Ngoài ra còn có địa điển, tam nguyên, thiên lão, bát quái, ngũ triệu, huyền ngộ, lục thập tứ quái, hữu bàn long, phi âm loạn phục, đều xưng là TRẠCH KINH và đều đã thất truyền.

Ở đây xin giới thiệu một bộ Trạch Kinh, tên cũ là Hoàng Đế Trạch Kinh. Bộ này có nhiều bản, như “Đạo tàng – Đông chân bộ chúng thuật loại”, “Tiểu thập tam kinh”, “Di môn quảng độc – Tạp chiêm, “Tân đãi bí thư” tập 4, “Sùng văn thư cục hội khắc thư”, “Đạo tàng cử yếu”, “Tứ khố toàn thư – Tí bộ thuật số loại”, “Học tân thảo nguyên” tập 9, “Cư gia tất bị – Xu tị”, “Thuyết phù”… đều có Trạch Kinh, nói rõ đây là bộ sách quan trọng về Tướng Địa, một văn hiến lưu hành rộng rãi.

Tác giả sách này xưa nay chưa được khảo cứu. Có người cho rằng, tác giả là Hoàng Đế, mà không biết rằng thời Hoàng Đế chưa có chữ viết, thì làm sao so sánh? Xưa nay có nhiều tác giả mượn danh Hoàng Đế, như “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”, là muốn nói rằng “nguồn gốc từ xa xưa” để đề cao địa vị của họ. Kỳ thực, nội dung như sách này bộ lộ nhiều chỗ sơ hở, tòi ra họ mượn nội dung về Trạch Kinh của Lý Thuần Phong, Lã Tài v.v…, không khảo mà xưng rằng đây là tác phẩm đời Đường hoặc sau Đường. Trong cựu “Đường thư – Kinh dịch chí” có “Ngũ tính trạch kinh” 2 quyển; “Tổng sử – Nghệ văn chí” có “Tướng trạch kinh” 1 quyển, “Trạch thể kinh” 1 quyển, có lẽ thuộc loại này.

Mở đầu sách nhấn mạnh tầm quan trọng của TRẠCH (nhà ở): “Trạch là bản lề giữa âm với dương, là dáng vẻ nhân luân của con người. Không có nhà để bái vật minh hiền, thì không thể giác ngộ được cái đạo… Trong chuyện cư trú, không ai là không cần nhà, tuy to nhỏ không như nhau, âm dương có khác biệt. Ngay cả những người cùng một ngôi nhà, cũng có thiện ác, người to nói lớn, người nhỏ bàn nhỏ, phạm thì tai họa, trấn thì họa yên, cũng như con bệnh uống thuốc vậy. Vì vậy, nhà là cái gốc của người. Coi trạch là nhà, ở yên thì gia đình hưng thịnh, nếu không thì gia đình suy thoái. Phần mộ, xuyên cương cũng vậy. Thuyết này đúng với tất cả, từ trên là quân quốc, thứ đến châu quận huyện đốc, dưới đến thôn xóm, rồi đến vùng cao, nhứng nơi có người ở”.

Làm sao chọn được ngôi nhà chủ điều lành? Sách này cho rằng, sách viết về nhà ở rất nhiều trong thiên hạ. Những sách đó đều tự cho mình là bí ẩn một cách kỳ diệu, rồi thì chê bai lẫn nhau, kỳ thực chỉ là đại đồng tiểu dị. Mọi người tin phong thủy, nghiên cứu “Ngũ tính bát trạch”, “Hoàng đạo bạch phương” mà quên bẵng cái lý của “âm – dương”. “Âm là mẹ đẻ ra sinh hóa vật tình. Dương là cha của sinh hóa vật tình, là tổ của trời đất, là đấng chí tôn của sinh sôi, thuận thì hanh thông, nghịch thì trái lại”. Do vậy, sách này lấy âm dương là rường cột, “thu nhặt những bí ẩn mà linh nghiệm chia thành 24 lộ, bát quái, cửu cung, mà phối với phương vị nam nữ, làm nhà ở nơi giao tiếp giữa âm dương, mà tìm tòi không nghỉ”.

Sách này lấy thiên can, địa chi phối hợp với Càn Cấn Khôn Tốn trong bát quái, hợp thành 24 lộ, lần lượt hình thành dương trạch đồ và âm trạch đồ. Trên đồ hình đó, lấy phương vị Càn Khảm Cấn Chấn và Thìn là dương, Tốn Ly Khôn Đoài là âm. Dương lấy Hợi làm đầu, lấy Tị làm cuối. Âm lấy Tị làm đầu, lấy Hợi làm cuối. Tất cả các phương vị đều liên quan đến cát hung, hoặc là đại họa, hoặc là đại phúc, thuận thì thịnh, nghịch thì vong. Nghe nói toàn bộ lăng mộ nhà Thanh đều căn cứ vào 24 sơn hướng, dùng la bàn mà xác định cát địa, gọi là điểm huyệt. Điểm được huyệt, mới khởi công xây dựng.

Sách này trình bày rất toàn diện về nhà ở. “Lấy hình thế làm thân thể, lấy sông suối làm huyết mạch, lấy đất đai làm da thịt, lấy cây cỏ làm lông tóc, lấy nhà làm quần áo, lấy cửa giả làm mũ, đai” nếu được đúng như vậy, thì sự nghiêm mà nhã, là đất thượng cát (rất tốt).

Sách này còn trình bày rất cụ thể về âm trạch đồ và dương trạch đồ, để hướng dẫn mọi người chọn đất. Những điều trình bày đều duy tâm, không có căn cứ thực tế, không đủ tin cậy.

Sách này trình bày lớp láng rất chặt chẽ, viện dẫn “Trạch cựu kinh” và “Tam huyền trạch kinh”. Vậy là một tập đại thành của các kinh, do đó mới lưu truyền đến bây giờ.

(Theo “Đại điển tích văn hóa Trung Hoa – tập Bí ẩn của Phong thủy”)

 

2. Táng Kinh: một tác phẩm nửa thật nửa giả

Thanh Ô Tử là người như thế nào? Nửa người nửa thần. “Bão Phác Tử – Cựu ngôn” viết: “Lại nói các đệ tử của Bành Tổ, ông Thanh Y Ô, ông Hắc Huyệt, ông Tú Mi… bảy tám người đều sống đến mấy trăm tuổi ở đời Ân rồi đều quy Tiên”. “Chân cáo chân mệnh thụ” chép: “Xưa, ông Thanh Ô được thầy giỏi dạy dỗ, nghiên cứu về kiếp tiên, vào núi Hoa Âm học đạo, tích lũy kiến thức trong bốn trăm bảy mươi mốt năm, 12 lần thi thì 3 lần không đạt. Sau được thăng làm Thái Cựu. Thái Cựu đạo nhân có 3 lần thi không đỗ, chỉ là người tiên, không được làm chân nhân. Nói vậy là ý gì?”. Vậy là coi Thanh Ô Tử là tiên cùng loại với Bành Tổ?

Thanh Ô Tử lưu dấu chân ở các nơi. Đàm Diêu đời Tống trong “Gia Thái Ngô Hưng chí” quyển 4, chép: “Trường Hưng Ô xem núi ở bắc huyện năm mươi dặm, cao bốn trăm thước”, “Sơn hư danh” chép: “xưa có Thanh Ô Tử chiêm vọng núi này, nói rằng núi này có thể lánh nạn và đường đạo, người lánh đời có thể đến ở, do đó mà có tên”.

Cái tên Thanh Ô Tử xuất hiện lần đầu ở sách nào? “Tứ khố toàn thư tổng mục” viết: “Muốn khảo cứu Thanh Ô Tử thì viết ở Tấn Thư – Quách Phác truyện”. Nhưng Tấn Thư – Quách Phác truyện chỉnh lý ở đời Đường thì không có tên Thanh Ô Tử. Trong lịch sử có 18 “Tấn Thư”, ngày nay còn lại một số, theo khảo cứu của Dư Gia Tích thì không một “Tấn Thư” nào ghi chép về Thanh Ô Tử. Rà soát lại văn bản, thấy tên Thanh Ô Tử đã xuất hiện từ đời Hán. “Quảng Vận” 15 chữ “Thanh” dẫn Đông Hán ứng Thiệu Phong tục thông”, viết: “Không có Thanh Ô Tử giỏi về mồ mả”.

Nhưng trước đời Đường quả có sách “Thanh Ô Tử”. “Thế thuyết Tân ngữ – Thuật giải thiên”, Lưu Hiếu Tiêu (Lương) chú giải có dẫn “Thanh Ô Tử tướng chủng thư” nói rằng: “táng ở sừng rồng thì phú quý bột phát, sau đó không còn bát ăn”. Ngu Thế Nam (cuối Tùy đầu Đường) tại “Bắc thường như sao” quyển 146, dẫn “Thanh Ô Tử táng thư” nói: “Ngày mở huyệt, thường cúng tổ công bằng cá rán”. Âu Dương Tuần (Đường) tại “Nghệ văn loại tụ” dẫn “Tướng trùng thư” viết: “Thanh Ô Tử” nói rằng nếu táng ở núi có hình trăng khuyết hoặc như con đò thì phú quý; táng ở núi có hình mào gà thì tuyệt diệt; táng ở núi trùng điệp, dáng như chiêng thì thì giầu đến liên châu hai nghìn thạch”. Lý Thiện (Đường) chú “Văn tuyển” quyển 23 “Lưu Lăng Vương mộ hạ tác” dẫn “Thanh Ô Tử” viết: “Thiên tử táng ở núi cao, chư hầu táng ở chỗ đồi gò liền nhau”. Những điều trên đây chứng tỏ “Thanh Ô Tử” lưu hành rộng rãi.

Trong mục lục văn hiến, “Cựu Đường thư – Kinh tịch chí”, “Tân Đường thư – Nghệ văn chí” đều chép “Thanh Ô Tử” ba quyển, không ghi tên người soạn. Nhưng “Tống sử – Nghệ văn chí”, “Sùng văn tổng mục” không thấy đưa sách này vào, do sơ suất hay là do “Thanh Ô Tử” đã thất truyền? Đây là vấn đề các nhà học thuật phải làm rõ. Hiện nay, tại “Tiểu thập tam kinh”, “Học tân thảo nguyên”, “Nhị thập nhị tử toàn thư”, đều có một quyển “Thanh Ô tiên sinh táng kinh”, đề Thanh Ô Tử đời Hán soạn thảo, thừa tướng Đại Kim Ô Khâm Trắc chú giải. Quyển “Thanh Ô tiên sinh táng kinh” có nhiều điểm đáng ngờ: Rất nhiều câu của “Thanh Ô Tử” được trích dẫn trong các sách đời Đường hoặc trước đời Đường, nay sao không thấy? Vì sao các mục lục đời Tống không chép Thanh Ô Tử. Vì sao bản sách này có rất nhiều nội dung trong “Táng thư” của Quách Phác? Thừa tướng Đại Kim Ô Khâm Trắc là ai? Vì sao trong “Kim sử” không thấy tên ông này? Ông thừa tướng “trên trời rơi xuống” này sao lại chú thích sách này? Có thể thấy sách này là sách giả mạo sau đời Tống.

Sách này còn có tên “Thanh Ô tiên sinh táng kinh”, trước đó đã có lời tựa tên là Thừa tướng Đại Kim Ô Khâm Trắc. Ô Khâm Trắc là ai? Vì sao lại phải giả làm tên ông này để đề tựa? Nhất thời chưa thể làm rõ. Nội dung bài tựa có thể chia làm hai phần: một là khảo chứng Thanh Ô, viết “Tiên sinh là người thời Hán, tinh thông thuật âm dương địa lý, mà sử không chép tên. “Táng thư” của họ Quách đời Tấn dẫn Kinh chính là kinh của ông”. Hai là đánh giá về sách, viết: “Lời của Tiên sinh giản dị và nghiêm túc, ngắn gọn mà đắt, trở thành lối văn về âm dương cho hậu thế”.

Sách này cứ bốn chữ là một câu, không chia thiên chia quyển, nội dung được đề cập gồm: Bàn Cổ hỗn mang, đọng kết sông núi, đất phúc hậu, núi ngưng nước lắng, mạch gặp nước dừng, những huyệt khả úy, quỷ thần và người, huyệt tốt mà ấm, quý khí tương tư (bổ trợ cho nhau), ngoại cầu (tìm kiếm) nội mị (tìm kiếm), thế dừng hình ngang, núi theo dòng chảy, trăm sông đổ về một mối, an chỉ xa xăm, hướng định âm dương, chủ lập bần tiện, đất phát công hầu, đất phát tể tướng, đất phát ngoại đài, đất phát phú quý, đất phát về văn, đất phát đại phú, đất bần tiện, chôn trộm, huyệt cát, hung táng, phong thủy tự thành (vốn có).

Qua trích yếu trên đây, ta thấy các lý luận mà các thầy phong thủy đời sau thường rêu rao, về cơ bản đã có ở sách này. Như nói về điểm huyệt, sách này viết: “Huyệt mà không thuận, xương mục rữa nát. Huyệt mà bất cập, chủ nhân tuyệt diệt; huyệt mà thẩm lậu, quan nghiêng quách ngửa, huyệt mà quay đi, hàn tuyền róc rách, đáng sợ như vậy, sao không cẩn thận”. Lại viết: “Nội khí phát sinh, ngoại khí thành hình. Nội ngoại nối tiếp, phong thủy tự thành. Lấy mắt mà đo, lấy tình mà hiểu. Nếu hiểu điều đó, mặc sức tung hoành”.

Qua đoạn văn trên, ta thấy những chỗ dấu đầu hở đuôi. Đời Hán chưa có từ “Phong Thủy” để gọi thuật tướng địa, vậy mà sách này lại viết “phong thủy tự thành”, rõ ràng không khảo mà xưng sách này không phải của người đời Hán soạn thảo, cũng không phải của Thanh Ô tiên sinh. Sách mượn tên Thừa tướng nhà Kim viết lời tựa và chú giải, lời chú và lời văn của sách cùng một phong cách, rất có thể cùng một người viết. Từ đó có thể suy đoán rằng, sách được soạn vào đời Nguyên, Minh.

(Theo sách “Đại điển tích văn hóa Trung Hoa – tập Bí ẩn của Phong thủy”)

3. “Địa Lý Chỉ Mông”: một văn bản có tính tổng kết

Sách này còn có tên “Quản thị địa lý chỉ mông”. Đây là một tác phẩm về thuật tướng địa mà thể lệ hoàn chỉnh, nội dung phong phú, quan điểm toàn diện.

Quản thị tức là Quản Lộ. Đầu sách có lợi tựa của Quản Lộ, nói rõ động cơ viết sách: “Người ta sinh ra từ ngũ thổ (núi rừng, sông hồ, gò đống, nấm đất, đồng nội) do tác dụng của khí. Khí tắt thì chết, lại về với ngũ thổ, đấy là cái lẽ bạn bản hoàn nguyên”.

Trấp vu ngũ tự, cách vu ngũ phối, ngũ phối mệnh chi, ngũ tự ty chi, đấy là nguyên do họa phúc của con cháu… Có nghĩa là Quản Lộ dùng học thuyết Ngũ hành để luận việc trôn cất, giúp người hoàn nguyên, thống nhất tam tài (Thiên – Địa – Nhân) trong khí.

Toàn thư gồm 10 quyển: cộng 100 mục

– Quyển 1: hữu vô vãng lai, sơn khẩu phối thiên, phối tự, tướng thổ độ địa, tam kỳ, tứ trấn thập tọa, biện chính sóc, thích trung, càn lưu quá mạnh, tượng vật.

– Quyển 2: Khai minh đường, chi phân nghị hợp, thích tí vị, ly sào nhập lộ, hình thế dị tướng, triều tòng dị tướng, tam kinh thích vi, tứ thế tam hình, viễn thế cận hình, ứng án.

– Quyển 3: Lấy huyệt, đắc huyệt, lấy hướng, phúc hướng định huyệt, thừa hưởng vinh quang của tổ tông, cờ ngũ phương, tả hữu thích danh, ngũ quỷ khắc ứng, thù xá tường chẩn, khắc nhân thành thiên.

– Quyển 4: Tam đạo thích vi, địch mạch sùng thế, nhật giả như lữ, ngũ hành ngũ thú, phương viên tương thắng, ngụy kết, tâm mục viên cơ, thích danh, sơn thủy hội ngộ, thịnh suy cải độ.

– Quyển 5: Trạch thuật, tam ngũ thích vi, sơn thủy thích vi, giáng thế trú hành, ly thực thân ngụy, tầm long kinh tự.

– Quyển 6: Vọng thế tâm hành, thủy thành, dương minh tạo tác, trạch nhật thích vi, mê đồ quả học, sức phương thâu thuật.

– Quyển 7: Hang tuyệt động tĩnh, sư thông sư mình, tham kỳ thất hiềm, thông thế chi thuật, tam đình thích vi, xí mạch, bằng ngụy tang chân, quá mạch tán khí, tả hữu thắng phu, tinh thần thích vi, dự định họa phúc, ngũ hành tương đức.

– Quyển 8: Âm dương thích vi, sai sơn nhận chủ, ngũ hành biến động, du cung việt phân, ngũ hành chính yếu, di thiên phát việt, tứ cùng tứ ứng, nhị khí tòng đồng dị, hình thế nghịch tu, thịnh suy chính ứng, cô kỳ cức ngụy, khí mạch thể dụng.

– Quyển 9: Tham phong thất nghi, chi thân nghị hợp, nhân hình nghĩ huyệt, đắc pháp thủ huyệt, tứ thế tam hình, tam cát ngũ hung, hội tú triều tông.

– Quyển 10: Vinh tạ bất đồng, tam gia đoạn liệt bất đồng, hồi long cố tổ, khu ngũ quỷ, thuần túy thích vi, hào li thủ huyệt, diêm tị tuần hoàn, thích thủy thế, âm dương giao cảm, ngũ khí tường chẩn, cửu long tam ứng, hình huyệt sam sai, vọng khí tầm long.

Mục lục này giúp ta nhìn rõ tính hệ thống và tổng hợp của sách, đúng là không thiếu mặt nào, trong đó trọng điểm là âm dương ngũ hành, hình thế, huyệt, hướng, mặt trời.

Thiên “Ngũ quỷ khắc ứng” bàn về ngũ hành, viết: “Do đó thuật tầm long (tìm long mạch) quý ở chỗ biết thịnh suy của ngũ hành, để luận ra trong đục của hai khí âm dương”. Thiên “Tam cát ngũ hung” chỉ rõ: “Thủy có 5 dạng xấu (ngũ hung)” là bạo (ào ào), liêu (lênh láng), trọc (đục ngầu), lại (chảy xiết), than (xối xả), sơn có ngũ hung là “đồng (trọc), đoạn (đứt đoạn), thạch (đá), quá (vượt quá hình thế), độc (đơn côi)”.

Người có ngũ hung bệnh hoạn thương tật, tử biệt sinh ly, tai ương hoạn nạn, chết yểu đơn côi, điên cuồng nóng nảy. Địa thế có ngũ hung là cát đùn đá chồng, lũng sâu nước cạn, cao nhọn chênh vênh, lõm sâu nước đọng, lộ liễu điêu linh”. Sơn thủy có ngũ hung là “núi cao nước dốc, núi ngắn nước thẳng, núi dựng đứng nước bị cắt, núi rối rắm nước chảy lung tung, núi lộ ra hết, nước chảy đi”. Thôn xóm có ngũ hung là “ao đầm tù hãm, đồng ruộng chật hẹp, mương hố nước đọng, sa ghềnh nước réo, soi bãi chuyển dịch”. Âm dương có ngũ hung là: “dương phát âm hành, âm lai dương trú, âm kiềm đương lưu, âm lưu dương triệt (đứt đoạn) âm một (biến mất)”. Ta thấy những hình tượng xấu đều có thể qui nạp vào ngũ hành.

Thiên “Ngũ quỷ khắc ứng” trình bày về cát hung của địa hình: hình như cờ rủ, không hẹn ngày về, chân co đầu ngoảnh lại, phát tích ở nơi khác. Hình như trăng lưỡi liềm, tù đày cầm cố. Hai sừng không nhọn, của vào không ra. Hình như rùa nằm, mồ côi góa bụa. Đuôi rủ không vẫy, vậy là thế ngắn; hình như thước gấp, tay làm hàm nhai. Chặn ngang như cánh cung, cả đời khốn cùng. Hình như chữ Y, lập thân không ra gì. Trùng hôn lưỡng tính, qui tông có thể định. Hình như thuyền lật úp, chết bởi vết thương” …

(Theo sách “Đại điển tích văn hóa Trung Hoa – tập Bí ẩn của Phong thủy”)

 

Chia sẻ.