BÁT-QUÁI LỤC-VỊ tức NẠP-GIÁP

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

BÁT-QUÁI LỤC-VỊ tức NẠP-GIÁP

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

Dịch không đề-cập can chi nhưng thoán-từ quẻ Cổ có câu: “Tiến giáp tam nhật, hấu giáp tam nhật先甲三日,後甲三日” và hào-từ cửu-ngũ quẻ Tốn có câu: “Tiến canh tam nhật, hấu canh tam nhật先庚三日,後庚三日”. Giả thác tên ngày để thủ nghiã. Ngũ-hành-gia có thuyết Nạp-giáp: lấy 10 can mà nạp vào quẻ. Sở dĩ gọi là nạp-giáp, bởi vì giáp đúng đầu hàng can. Các nhà Điạ-lý và Tu-dưỡng cũng hay dùng thuyết này. Đại để thuyết này có trước thời Tần-Hán. Có hai phép nạp-giáp:

  1. Nạp-giáp Kinh-quái tức quẻ đơn:
Quẻ Kiền Khôn Cấn Đoái Khảm Ly Chấn Tốn
Nạp Giáp Ất Bính Đinh Quý Nhâm Canh Tân

                  Bảng 5.16 Bảng Nạp-Giáp Kinh-quái

  1. Nạp-giáp Biệt-quái của Kinh Phòng:
Quẻ Kiền Khôn Cấn Đoái Khảm Ly Chấn Tốn
Nạp Giáp

Nhâm

Ất

Quý

Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân

                Bảng 5.17 Bảng Nạp-Giáp Biệt-quái

Vì có 10 can mà chỉ có 8 quẻ đơn, nên mậu, kỷ không nạp. Mặt khác, vì Biệt-quái dùng để phân-bố cho cả Hồn-thiên Giáp-tí gồm trọn 60 hoa-giáp, nên bó buộc phải nạp cả 10 can. Cho nên Kiền Khôn mới nạp Giáp Ất ở nội-quái và nạp Nhâm Quý ở ngoại-quái. Vì hai quẻ Kiền Khôn là phụ-mẫu nên mới nạp cả 4 can thủ vỹ vậy.

Để đừng lẫn lộn hai phép nạp-giáp cho quẻ đơn và quẻ kép ta có thể nhớ rằng với quẻ đơn: “Chấn canh, Tốn tân, Ly nhâm, Khảm quý”.

Còn với quẻ kép ta có bài ca:

Lục hào nạp giáp nhớ hoài,

Kiền, Khôn Giáp Ất, Cấn Đoài Bính Đinh.

Khảm Ly Mậu Kỷ nên tình,

Còn như Chấn Tốn nạp minh Canh Tân.

Kiền Khôn Nhâm Quý thêm lần.

Hình 5.030 Sáng Trăng Vơi Đầy (3B, tr. 29) 

Hình 5.030 gồm 5 vòng tròn đồng-tâm chia thành 6 góc sáu (600), kể từ trong ra ngoài là:

  1. Tuần trăng;
  2. Sáu quẻ: chấn , đoài , kiền , Tốn , cấn , khôn ;
  3. Sáu ngày: mùng ba, mùng tám, rằm, mười tám, hăm ba, ba mươi (hối);
  4. Sáu câu tả tình-trạng động-tĩnh: a) Dương dĩ tam lập, tam nhật chấn-động (Dương dùng 3 để xây-dựng, mùng 3 chấn-động); b) Âm dĩ bát thông, bát nhật đoài hành (Âm dùng 8 để hanh-thông, mùng 8 đoài đi); c) Tam ngũ đức tựu, kiền thể nãi thành (3 x 5 = 15: ngày rằm đức thành việc); d) Tốn kế kỳ thống, nhân tế thao-trì (Tốn tiếp-tục hệ-thống, nhân giúp đỡ mà thao-luyện, tu-trì); e) Cấn chủ tiến chỉ, điển thủ huyền kỳ (Cấn chủ ngừng tiến, cầm trịch trăng lưỡi liềm); f) Lục-ngũ khôn thừa, kết quát chung thuỷ (5 x 6 = 30: khôn tiếp theo để đạt chung-thủy);
  5. Hào-từ quẻ Kiền: a) Sơ-cửu tiềm long (Sơ-cửu: Rồng ẩn); b) Cửu-nhị hiện long (Cửu nhị: Rồng hiện); c) Cửu tam tịch dịch (Cửu-tam: Sợ-sệt); d) Cửu-tứ Hoặc dược (Cửu-tứ: Nhẩy trên vực); e) Củu-ngũ Phi long (Cửu-ngũ: Rồng bay); f) Thượng-cửu Kháng long (Thượng-cửu: Rồng lên cao quá).

Hình 5.031 Nạp-giáp Quẻ Đơn (5AD, tr. 196-7)

Mùng 3 sinh phách, nhật nguyệt xuất canh: quẻ chấn ‘, can canh.

Mùng 8 (thượng-huyền), nhật nguyệt kiến đinh: quẻ đoài #, can đinh.

Mười lăm, trăng tròn, nguyệt doanh giáp, nhâm: quẻ kiền !, can giáp, nhâm.

Mười sáu trăng khuyết, nhật nguyệt lui về tân: quẻ tốn ), can tân.

Hăm ba (hạ-huyền), nhật nguyệt tiêu bính :  quẻ cấn -,can  bính.

Ba mươi không trăng, nhật nguyệt diệt ất, quý: quẻ khôn /, can ất, quý.

Ngày sóc (mùng một), khảm +lưu mậu; nhật-trung, mặt trời sáng, ly %tượng hoả, tựu tỵ.

Chia sẻ.