28 C
Hanoi
Thứ Hai, 24 Tháng Sáu, 2024
spot_img
Trang chủ Blog Trang 23

HOÀNG-KIM-PHÚ

0

1. Tử-vi trung hậu
Thiên-phủ ôn lương
– Sao Tử-vi trung hậu,
– Sao Thiên-phủ ôn hoà, từ tâm.

2. ồng, Cơ viên, phú tinh tâm từ
Linh, Hoả miếu, vi nhân đởn đại
– Sao Thiên-đồng, sao Thiên-cơ, vui vẻ hin từ.
– Sao Hoả, Dần, Mão, Tỵ, Ng; Sao Linh-tinh, Tí, Ng chiếu mệnh là ngưi can đảm (tối kị đàn bà).

3. Phúc diệu phùng Việt diệu ư Tỵ cung, định thị hải hà dục tà.
Ấm tinh phùng Khôi tinh ư Hợi địa, ưng chi sơn nhạc giáng thần.
– Thiên-đồng ngộ Thiên-việt ở Tỵ cung ngưi dáng điệu đẹp như sông bể (quí cách).
– Thiên Lương ngộ Thiên-khôi ở Hợi cung dáng điệu oai như thần linh giáng thế.

4. Nhật lạc nhàn sắc thiểu xuân dung.
Lương xung toạ, chủ kiêm th toán.
– Thái-dương hãm mặt mũi âu sầu, buồn.
– Thiên lương chiếu Mệnh thượng th.

5. Mão, Dậu, Tử, Tham vi tăng đạo
Cát quý gia tượng lực vinh phong
– Tử, Tham ở Mão Dậu, là ngưi thích ưa đạo Phật, từ tâm, nếu thêm nhiu Quí tinh được giầu sang.

6. Cấn canh Tử, Phủ vi Phật nhi
Hình, Sát hội, Long thần định giáng
– Mệnh Dần, Thân, Tử, Phủ ngưi to béo như con của Phật
– Mệnh Dần, Thân gặp Thất-sát ngưi có oai tướng như Long thần.

7. Hoá-kị văn nhân bất nại
Thiên-cơ nữ mệnh thiển trung
– Hoá-kị đi với bộ sao Văn (Xương, Khúc, Khôi, Việt) công danh lận đận.
– àn bà có sao Thiên-cơ ở mệnh nếu gặp Sát tinh vất vả.

8. Thiên-tướng Tuất, Thìn khởi thị đạt công danh chi sĩ.
ế toạ La, Võng hoàn, vi phi nhân nghĩa chi nhân.
– Cung Quan, Tuất, Thìn gặp Thiên-tướng: công danh bn.
– Tử, Tướng ở Thìn, Tuất an Mệnh ngưi hung bạo gan dạ.

9. Hợi toạ Quế, Hoa phi vinh, tắc phú
Cung Thao, ế Ấn đoạt trưởng tranh quyn
– Cung Hợi gặp Xương, Khúc an Mệnh: chẳng giầu thì sang.
– Tử-vi, Quốc-ấn ở Ng (Cung Thao) an Mệnh hoặc Bào mình là con thứ hoá con trưởng.

10. Tham cư Tí, thử thiết vô nghi, ngộ Tuần, Không phải vi đoan chính.
Phá toạ Ly cẩu thâu vị miễn, phùng Lộc, Dương năng giải xướng cuồng.
– Tham-lang cư Tí an Mệnh: nói như xẻ cửa chia nhà, trái lại gặp Tuần, Không là ngưi giữ li hứa.
– Phá-quân cư Ng an Mệnh, ăn nói cầu nhầu; nhưng gặp Lộc và Thiếu-dương: là ngưi vui tính hay nói khôi hài.

11. Mão cơ Vũ, Sát, Phá, Liêm: phòng mộc áp, lôi xà, chi hoạ.
Tù ngộ Dương, à, Linh, Hoả, hữ toả đà, thất cốc chi ưu.
– Những sao kể trên ở Mão, Mệnh hoặc Hạn gặp; đ phòng gỗ đè, rắn cắn, điện giật, sét đánh (gặp Quí tinh và Tuần, Triệt khả giải.)
– Sao Liêm-trinh, Tỵ, Hợi gặp Dương, à, Linh, Hoả đ phòng trăng trói, đói khát, tù tội.

12. Khúc, Xương hãm Thiên-thương đồ lãng đãng. Liêm-trinh phùng Văn-quế, cánh bôn ba.
– Sao Khúc, Xương đi chung với Thiên-thương và Liêm-trinh công danh lật đật.

13. Sát, Tí, Ng, Hổ hầu th khảo Hình Dần, Tuất, Kê, Th anh hùng.
– Sát ở Tí, Ng, Dần, Thân an Phụ-mẫu, thi phụ mẫu th. Hình Dần, Thân, Mão, Dậu an Mệnh ngưi có tài năng đảm lược.

14. Tham tú toạ, nhi phùng Hoá-kị đạo ngoại hành thương.
Song Lộc cư, nhi ngộ Cơ, Lương phú gia địch quốc.
– Tham-lang đắc đại gặp Hoá-kị, buôn bán ngược xuôi.
– Song Lộc gặp bộ Cơ, Lương giầu sang phú quí

15. Phá, Liêm, Mão, Dậu mạc ngộ Kiếp, Kình tu phòng hình ngục.
Kị cư Mộ cung, nhi giao à Hổ, sa mã hạn hành.
– Phá, Liêm Mão, Dậu ngộ Kiếp, Kình đ phòng tụng sự.
– Cự Môn Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp Kị: xe ngựa đ phòng.

16. Khốc Hư Tí Ng tin bần hậu phú.
Mã ngộ Tràng-sinh thanh vân đắc lộ.
– Sao Khốc, Hư, Tí, Ng hạn gặp tin trở hậu thành.
– Mã gặp Tràng-sinh hạn gặp công danh như ước nguyện.

17. Kiếp-sát phùng Thai tu phòng sản, Mộ tinh ngộ Nhật thân phụ nan toàn.
– Kiết-sát ngộ Thai an Mệnh, Tử-tức, ch: khó đẻ
– Sao Mộ gặp Thái-dương hạn gặp: bố đau yếu hoặc chết.

18. Thiên-lộc nhi ngộ Thái-âm tại Nhàn cung, dị bào huynh đệ.
Phúc diệu nhi ngộ Cự-môn tại Mộ cung, thế nhi đãng đãng
– Lộc-tồn, Thái-âm cư Tí an Bào: có anh em dị bào.
– Thiên-đồng, Cự-môn ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi an Thê, Tử-tức muộn vợ muộn con, anh Mệnh thì ảnh hưởng ít.

19. Mã ngộ Thiên-hình nhi phùng Thiên-khốc, công hoàn phát võ.
Kình ngộ ồng Âm, nhi phùng Phượng Giải, nhất thế uy danh.
– Mệnh hoặc hạn gặp tất hay (khác nào vị tướng thắng trận)
– Mệnh hoặc hạn gặp rất hay (Khác nào Lưu Bang làm vua)
Nên nhớ ồng, Âm ở cung Ng mới tuyệt đẹp

20. ào, Hồng cư Quan tảo tuế đắc quân hành chính.
Khúc, Xương giáp Mệnh xuất ngoại đa cận quí nhân.
– Sao Hồng, ào ở Quan-lộc: công danh sớm gặp.
– Mệnh giáp Khúc, Xương bước ra đưng đi gặp ngưi to nâng đỡ.

21. Tham, Vũ đồng hành hạnh phùng Mộ tinh; tứ đại hiển vinh
Tướng, Binh toạ chiếu lai chiu Hình, Ấn: ái văn sung võ.
– Tham, Vũ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: là Mộ cung) nhưng thêm sao Mộ, an Phúc-đức, h hàng 4 đi sung sướng: An Mệnh cũng tốt.
– Mệnh hoặc Thân, được gặp 4 sao kể trên chiếu: Kiêm văn võ toàn tài, hoặc làm việc coi Binh lương.

22. Thiên-phủ tối kị Không tinh: nhi ngộ Thanh-long phản vi cát tượng
Tử-vi tu cần Tam hoá; nhược phùng Tứ sát: phong bãi hà hoa.
– Thiên phủ rất sợ Tam Không nhưng gặp Thanh-long thì đẹp.
– Tử vi cần Tam Hoá, nhưng gặp Kình, à, Không, Kiếp thì khác nào cánh hoa bị mưa gió phũ phàng.

23. Tam Không bất kị chư sú vô hữu Chính tinh.
Tứ hướng giao phù cát diệu, tu phòng Tuần, Triệt.
– Cung nào không có Chính tinh, gặp 1 trong Tam Không ở đó thi hay, hạn gặp rất tốt, nhưng có Tuần Triệt thi giảm.

24. Thai tinh Mộ diệu lai triu, đa hc thiểu thành.
Nhật, Nguyệt nhi chiếu Hư Không, hc nhất nhi thập.
– Sao Thai và sao Mộ chiếu Mệnh: hc không thành tài.
– Mệnh vô chính diệu, Âm, Dương đắc địa chiếu rất thông minh.

25. Tam kỳ giao hội, mạc ngộ Kị, Kình ; giáng lộ thanh vân.
Dần, Thân, Không, Kiếp, nhi ngộ Quí tinh, thăng trầm vô độ.
– Mệnh có Tam Hoá gặp Kiếp, Kình công danh không bn.
– Mệnh Dần, Thân nhiu sao tốt, nhưng lẫn sao Kiếp, Không cuối đi lên voi xuống chó.

26. Tỵ, Hợi, Kiếp, Không nhi phùng Quyn, Lộc hoạnh phát tung hoành.
Tham, ào, Giải-ách nhi ngộ Linh, Riêu lãnh hoàn chi bệnh.
– Mệnh tại Tỵ, Hợi gặp Quyn, Lộc, Kiếp, Không: ngưi dũng lược tài đảm, chốc võng giá nghênh ngang, chốc tay trắng.
– Cung Giải-ách có 4 sao kể trên; bị bệnh lãnh tinh.

27. Sát phùng Hình, Hổ, hãm tại Tử cung, thai lệ chi ai.
Phá ngộ Kị, Tang nhập cư Nô-bộc đa chiêu oán nộ.
– Sao kể trên ở Tử-tức, buồn rầu v con (hiếm)
– Sao kể trên ở Nô-bộc làm ân nên oán.

28. Tuyệt phùng Hoả diệu tại Hợi cung, nhi ngộ Tham, Hình uy danh vu thế.
Hồng ngộ Cơ, Thư cư Dần địa, nhi phùng Lộc, Ấn hoan cận cửu trùng.
– Cung Hợi gặp sao Tuyệt, Hoả thêm Tham, Hình an Mệnh hoặc chiếu Mệnh, công danh lừng lẫy.
– Sao kể trên, an Mệnh hoặc hạn gặp, khác nào gặp vận tốt, đàn bà cần Tấu-thư, đàn ông cần Lộc-tồn.

29. Lương phùng Hao, Sát tại Tỵ cung đao nghiệp hình thương.
Kị ngộ Khoa tinh cư Hợi, Tí; ngôn hành danh thuận.
– Mệnh ở Tỵ gặp sao kể trên khó tránh bất đắc kỳ tử.
(Thiên-lương tối kị Song Hao và Kiếp-sát, hoặc cung Bào, Phụ-mẫu, Nô-bộc, Phúc-đức, Thê, Tử ở đó liệu mà đoán, thi ngưi đó sẽ bị, có Tuần, Triệt khả giải)
– Mệnh ở Tí hoặc hạn gặp Khoa, Kị trên thuận dưới nghe (tốt)

30. Mệnh Quan nhi giáp Phượng, Long thanh danh sủng ái.
Tài, Phúc nhi phùng Hao, Kiếp đơn ảnh cô bần.
– Mệnh, Quan giáp Long, Phượng: tiếng tăm vui vẻ.
– Phúc-đức ngộ Hao, Kiếp, chiếc thân cô độc, nghèo hèn.
Nếu Mệnh có nhiu Quí tinh, Hao, Kiếp đắc địa chỉ là giầu sang phú quí không bn, nhưng vần làm nên phi thưng.

31. Lộc, Mã giao trì, chúng nhân sủng ái.
Kiếp, Không độc thủ, thị kỷ phi nhân.
– Lộc, Mã thủ Mệnh ai ai cung yêu mến.
– Kiếp, Không hãm, thủ Mệnh, mà vô chính diệu, ai ai cũng ghét, đã chẳng ra gì, lại còn khinh ngưi.

32. Dần, Thân hội Tham, Liêm, ngộ Văn-xương nhập lao Quản Trng.
Cự, ồng nhi phùng La, Võng, ngộ Khoa tinh, thoại thuyết Lịch Sinh.
– Mệnh và Hạn gặp khác nào ông Quản Trng vào tụ ngục.
– Cự, ồng Thìn, Tuất ngộ Hoá-khoa ngưi ăn nói gii tựa như Lịch Sinh sang T thuyết khách, nhưng phải thêm nhiu Quí tinh, nếu không yểu tử như Lịch Sinh.

33. Mệnh vô chính diệu, hoan ngộ Tam Không; hựu Song Lộc phú quý khả kỳ.
– Mệnh không có chính tinh mà gặp Tam Không thêm Song Lộc, phú quý giầu sang vô kể.

34. Cự, Cơ nhi ngộ Lộc-tồn ngữ bất chính ngôn.
Nhật, Nguyệt nhi phùng Hình, Hoả thân thể bạc hình
– Mệnh gặp như thế, ngưi ăn nói không nghĩ trước sau.
– Mệnh gặp như thế, ngưi gầy gò như hạc, như mai.

35. Tử, Phá tại Mộ cung, bất trung bất hiếu.
Vũ, Phá Tỵ Hợi, đãng tử vô lương
– Mệnh gặp như thế, ngưi bất trung bất hiếu, ngưi cải cách chính thể đại cục.
– Mệnh gặp như thế ngưi sáo trá, gian hùng.

36. Tí, Ng, Tướng Liêm nhi phùng Phụ Bật, thái y đắc thế.
Cơ, Nguyệt Cấn Khôn, nhi ngộ Riêu, Xương thi tứ dâm tàng.
– Mệnh gặp như thế thầy thuốc gii.
– Mệnh gặp các sao như trên ở Dần, Thân văn thơ phong tình, như Bà Hồ Xuân Hương (đĩ miệng)

37. Vũ, Tướng Dần Thân nhi ngộ Lộc, Quyn phú gia Vương Khải
Phá, Kình Mão Dậu nhi phùng Khoa, Bật khởi nguy Hoàng Sào.
– Mệnh Hạn gặp giầu sang như Vương Khải
– Mệnh Hạn gặp tung tung hoành như Hoàng Sao khởi nguy.

38. Cự-môn, Tỵ Hợi, Kị ngộ Lộc-tồn nhi phùng Quyn, Lộc kiếm sạ ẩu, Ngưu.
ế toạ Ly cung, Kị phùng Hao, Sát hạnh ngộ Khôi Khoa, hữu tài phụ chính.
– Mệnh hạn gặp như thế, khác nào ngưi dùng kiếm mà bắt sao Ngưu sao ẩu (nên an phận thủ thưng; ngưi có chí to, nhưng không toại nguyện)
– Tử-vi cư Ng gặp Khôi, Khoa có tài tế thế kinh bang; nếu gặp Hao, Kình, à, Không, Kiếp, Kiếp-sát thi vô vị.

39. Cự, Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao uy quyn chính thế.
Tham, Tử thuỷ cung, giáp biên Tứ sát bần khổ chung thân.
– Mệnh Hạn gặp như thế, công danh thành đạt (xin nhớ Cự, Cơ Mão, Dậu, Tí, Ng cần song Hao mới hay)
– Tham, Tử, Hợi, Tí giáp Tứ Sát tinh rất xấu.

40. Âm Dương lạc hãm, tu cần Không diệu tối kị Sát tinh.
Nhật Nguyệt tịnh minh tối kị Tam Không, tu cần Khoa, Lộc
– Âm Dương lạc hãm cần Tam Không, gặp Kình, à, Không, Kiếp xấu.
– Âm Dương đắc địa có Khoa, Lộc mới hay; gặp tam Không giảm tốt.

41. Lã Hậu lộng quyn phùng Lưỡng Lộc.
Dương Phi hảo sắc thị Khúc, Xương
– Mệnh gặp Lưỡng Lộc, thi lung lạc quyn hành như bà Lã Hậu.
– Mệnh gặp Khúc, Xương thi phong nguyệt được sủng ái như Dương Phi.

42. Tả, Hữu tại Phu cung, vô mối tự giá
Phủ, Tướng cư Thê vị, phi giá bất thành
– Cung Phu-thê gặp Tả, Hữu, lấy vợ lấy chống không mất tin, hoặc mất ít.
– Cung Phu-thê gặp Phủ, Tướng không thể lấy nhau một cách lúi xùi như cách trên được.

43. Hạn phùng Tử, Phủ, Vũ, Tướng hạnh đắc Hồng, Quyn, Khương Công hỷ ngộ Văn Vương.
Hạn ngộ Cơ, Nguyệt, ồng, Lương kiểm Hữu Sát tinh, Hiến ế ưu phòng ổng Thị.
– Hạn gặp như trên khác nào Khương Tử Nha gặp Văn Vương.
– Hạn gặp như trên khác nào Hiến ế gặp ổng Trác lộng quyn.

44. Hệnh đắc Tham, Liêm, Sát, Phá tu cần Tử, Phủ, Vũ, Tướng lưu niên.
Mệnh Cơ, Nguyệt, ồng, Lương tối kị Sát, Phá, Tham Liêm chi hạn (gặp Hoá-khoa khả giải)
– Mệnh có bộ Tham, Liêm gặp Tử, Phủ thi hay.
– Mệnh có bộ Cơ, Nguyệt gặp Sát, Phá, Tham thi xấu. Nhưng gặp Hoá-khoa không ngại gì vì bộ Sát, Phá, Tham chỉ cần Hoá-khoa mới hin.

45. Nữ tướng tinh hùng huỷ hư trừng.
Nam Thiên-phủ giảo long vãng dực.
– àn bà Thiên-tướng thủ Mệnh, hung tợn như gấu dữ nếu gặp Hồng, Tấu số cung phi.
– àn ông gặp Thiên-phủ khác nào con thuồng luồng qua vực (tính nết cẩn thận, suy nghĩ)

46. Sát, Phá, Tham tại nữ Mệnh, nhi ngộ Văn-xương ư Tân, inh tuế xướng phụ chi nhân.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Phu cung gia hợp Riêu, ào ư Giáp, Mậu nhân giang hồ chi nữ.
– Tuổi Tân, inh đàn bà gặp các sao kể trên, một bước làm nên bà (làm quan tắt)
– Tuổi Giáp, Mậu đàn bà, cung Phu có các sao kể trên, cũng một bước lên bà (nhưng không bn)

47. Cự, ồng nhập miếu tại Mệnh-viên, mẫn tiệp đa năng.
Phủ, Vi lạc hãm ư Thân, Sứ , trở thành vạn sự.
– Cự, ồng ở Mệnh đắc địa, có tài gii chứ không phải là “canh cải chóng chán”
– Tử, Phủ hãm Thân, Mệnh làm việc gì cũng lận đận mới thành.

48. Thiên-phủ, Kị ngộ Không tinh, lại nhập Tài cung tán hao vô độ.
Tử-vi mạc phùng ịa-kiếp, Hồng, ào nhập Mệnh, giảm th chi niên.
– Cung tài gặp như thế, đồng tin lên xuống không bn.
– Mệnh gặp như thế giảm th.

49. ế-vượng, Tràng-sinh tại Mệnh-viên; Kiêm phùng Tử, Phủ quảng đại chi nhân.
Thiên-tướng, Tử-vi, Thân phùng Phá kiêm ngộ Vượng, Tuần, đa mưu yếu trá.
– Mệnh như thế: ngưi chính nhân quân tử.
– Mệnh như thế ngưi mưu mẹo tinh giảo.

50. Tật cung hạnh phùng Phá, Sát, nhi ngộ Song Hao, Mộc, Kị sang độc ung thư.
Giải Sứ mạc ngộ Cự, ồng, kiêm phùng Tang, Hổ, à, Riêu vô sinh nam dưỡng.
– Cung Tật-ách gặp như thế: hay bị ung nht, mổ xẻ.
– Cung Tật-ách gặp như thế: đẻ nhiu nôi ít (nuôi con chật vật)

51. Quang Vũ nhất thế uy danh do ư ồng, Nguyệt, Giải, Kình.
Lý Quảng sức dịch vạn chúng, thị hữu Kình-dương, Lực-sỹ.
– Quang Vũ, Lý Quảng gặp các sao kể trên, Mệnh đu ở Ng.

52. Tràng-sinh tại Hợi, Tuyệt sứ phùng sinh, nhi phùng Thiên-mã, lộ đồ buôn tẩu.
Thiên-mã tại Tỵ, thi ư chiến mã, hạnh ngộ Tướng, Khoa, loạn thế xuất đầu.
– Sao Tràng-sinh và Mã ở Hợi: là ngưi có tài, nhưng chìm nổi.
– Thiên-mã ở Tỵ đắc địa, ngộ Tướng, Khoa, thi loạn làm nên công cán, hoặc những việc khó khăn ngưi khác không làm nổi, mà mình làm nổi.

53. Sát, Phá, Tham tại Phối cung, đắc Quyn, Lộc, Khúc, Xương. Mệnh phụ chi nhân, him Quí, Tuế, ưu phùng Cơ, Quả; quả phụ chi nhân.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng Phu vị, kiêm Tam kỳ gia hội, lược thao chi nữ, kị Tân, Kỷ, ưu ngộ Kình, à chung thân trái quả.
– Cung Phu có những sao kể trên là bậc Mệnh phụ, nhưng tuổi Quý mà gặp Cô-thần, Quả tú thì goá sớm.
– Cung Phu có những sao kể trên, ngưi đảm đang thao lược, nhưng tuổi Tân, Kỷ gặp thêm Kình, à suốt đi đa hận.

54. Chu Mãi Thần tin bần hậu phú, do hữu Khốc, Hư chính hướng. Trương Tử Phòng thao lược đa mưu do phùng Tử, Phủ, Kị, Quyn
– Chu Mãi Thần khổ trước sướng sau, vù có Khốc, Hư, Tí, Ng. Trương Lương nhiu mưu kế tài gii vì Mệnh có Tử, Phủ, Kị, Quyn.

55. Tham, ào tại Nhàn cung, nữ Mệnh độc phụ chi nhân tâm, ngộ Triệt, Tuần tâm tình thư thái.
Riêu, Sát cư Hoả địa, nữ nhân ba đào xuất hải, phùng Quyn, Lộc tham bác chi nhân.
– àn bà Tham, ào, Hợi, Tí an Mệnh ngưi hiểm độc, nhưng gặp Triệt, Tuần ôn hoà thanh nhã.
– Riêu, Sát, Tỵ, Ng nữ Mệnh phong trần chìm nổi (có tài); nhưng gặp Quyn, Lộc có tài tinh nhưng không vương luỵ

56. Cự, ồng nhập mộ nhi hợp Kị, Kình hạn phong thuỷ lộ.
Tham, Sát, Ng, Dần kiêm ngộ Hổ, Tang: lôi thu nan đ.
– Cự, ồng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp thêm Kị, Kình đ phòng sông nước (tuổi Tân, inh vô ngại)
– Các sao kể trên, Mệnh hạn gặp, nên đ phòng sấm sét và thú dữ.

57. Tràng-sinh, ế-vượng tại Tử cung, Lộc, Quyn chiếu củng, đa sinh quí tử.
Kiếp, Kình, Tang, Hổ cư nhập Tử: ám Kị lai sâm, hữu tử tật nguyn.
– Các sao kể trên ở Tử-tức con có tài lược.
– Các sảo kể trên ở Tử-tức, và thêm Hoá-kị và v hàng ám tinh sinh con có đứa phải tàn tật.

58. Triệt ngộ Lộc-tồn cư Huynh-đệ, nam trưởng buôn ba ngoại sứ.
Khốc phùng Tang, Hoả tại Phu cung, phu quân lưỡng mục bất minh.
– Cung Huynh đệ có các sao kể trên, có ngưi anh tài phải bôn ba lưu lạc, nếu không có, mệnh đi đến hạn đó, cung bôn ba.
– Các sao kể trên ở cung Phu, chồng bị kém mắt, hoặc tàn tật; nếu không thì goá sớm.

59. Lộc-tồn nhập miếu tại Hợi cung, chung thân phú túc, Hoá-lộc đắc địa cư Dần, Mão cố thủ tham tài.
– Sao Lộc-tồn ở Hợi an Mệnh, suốt đi no ấm.
– Sao Hoá-lộc, Dần, Mão an Mện giầuh có, giữ của bn.

60. Phá cư Mộ cương quả chi nhân, phùng thi loạn thế, nhi phùng Hình, Lộc chấn động uy danh.
Dương tại Thuỷ, nhật trầm Thuỷ để, loạn thế phùng quân, mạc ngộ sát tinh tu phòng đao nghiệp.
– Phá-quân, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi an Mệnh hoặc hạn gặp, gặp cơ hội tiến đạt; thêm Hình, Lộc công danh vang bóng một thi.
– Thái-dương cư Hợi an Mệnh loạn thế gặp thi, nhưng ngộ Sát tinh nên phòng ám sát.

61. Nam nhân Tang, Hổ hữu tài uyên bác.
Nữ Mệnh, Hổ, Riêu đa sự quả ưu
– Con trai gặp sao kể trên có tài.
– Trái lại con gái gặp, nhiu chuyện buòn dầu (muộn chồng)

62. Thanh-long Thìn thổ, inh, Kỷ âm nam, gia hợp Kị kinh công danh toại mãn
Xương, Khúc, Sửu Mùi, Giáp, Nhâm dương nữ, kiêm phùng Hồng, Lộc hin phụ chi nhân.
– Thanh-long Thìn, Tuất, Sửu, Mùi an Mệnh, Quan, Di, Tài đàn ông inh, Kỷ, gặp thêm Hoá-kị công danh lên như diu.
– Các sao kể trên đàn bà Dương tuế là ngưi đức hạnh.

63. Thiên-không, Hoá-kị, tối kị Quan cung, nhi phùng Âm, Dương phản bối, công danh vãn tuế tất thành.
Linh, Hoả, Hình, Tang tối him Tử-tức, hạnh ngộ Ngật, Nguyệt tịnh minh, nam tử lão thành tất hữu.
– Cung Quan tối kị sao Thiên-không và Hoá-kị, gặp Âm Dương phản bối: tức là mặt trăng mặt tri sáng ra, nhưng v vãn niên mới thành đạt.
– Cung Tử-tức gặp các sao kể trên, v già mới có con, nhưng con khá.

64. Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Tả, Hữu, Phượng, Long, kiêm hợp Lộc, Ấn, Khoa, Quyn khánh hội quân thần chi cách, gia Kiếp, Kình loạn thế nan thành đại sự.
Sát, Phá, Liêm, Tham tam kỳ gia hội lại chiu Hồng, Hình, Tả, Hữu uy danh nhất thế chi nhân. Kị, Không, Triệt: chung thân tác sự nan thành.
– Mệnh gặp các sao kể trên nhưng gia thêm Kiếp, Kình công danh dẫu gặp gỡ nhưng không bn.
– Mệnh gặp các sao kể trên, nhưng ngộ Tuần, Triệt võ công hiển đạt nhưng không bn.

65. Chu Thái Hậu hiếu hạnh sắc tài, do hữu Tử, Phủ, Khoa, Quyn, Hình, Sát
Tống Nguyên Phi dung nghi đức lượng do hữu ào, Hồng, Cơ, Cự, Hao, Quyn.
– àn bà gặp sao kể trên, hiếu hạnh kém gì bà Chu Thái Hậu.
– àn bà gặp các sao kể trên, đức độ tài gii kém gì bà Tống Nguyên Phi.

65. Lộc phùng Lương miếu, bão tư tài, ích dữ tha nhân.
Hao ngộ Tham-lang tài sinh dâm tình, ư tỉnh để.
– Nghĩa đen: Hoá-lộc hoặc Lộc-tồn gặp Thiên-lương đắc vị, ngưi đem của mình mang cho kẻ khác (nghĩa bóng: đem cho vay lãi)
– Nghĩa đen: Hao gặp Tham-lang, ngưi tích tin, yêu tình ái, lòng ham muốn thâm sâu tận dáy giếng (nghĩa bóng: có tin cứ bo bo giữ tin, hoặc đem chôn cất đồng tin; còn tình ái kín đáo, giữ gìn che đậy)

66. Song Hao Tỵ Hợi nhi ngộ Sát, Hình Giáp Canh dương nữ thụ cách yểu bần.
Lưỡng Lộc Ng Dần nhi phùng Tử, Vũ inh Kỷ âm nam phú đa danh th.
– Các sao kể trên ở Tỵ, Hợi đàn bà Giáp, Canh và Dương tuế nghèo yểu.

67. Thiên-hình, Hoá-kị nhi ngộ Bệnh-phù, Hao, Sát tại Giải cung: hữu tật phong sang.
Nhật, Nguyệt vô minh, nhi phùng Riêu, Kị, Kiếp, Kình ư Mệnh, Giải: tật nguyn lương mục.
– Các sao kể trên ở Giải-ách hay bị phong hủi.
– Các sao kể trên ở Mệnh, Tật-ách mắt kém hoặc mù

68. Hoá-kị Tí cung Khoa, Lương phụ chiếu: Khổng Tử đắc quân dân sủng ái.
Tướng, Liêm tại Ng, Khoa, Hình, Quyn củng: Hàn Tín đạt cao võ thượng chi công.
– Các sao kể trên an Tí cung, tựa như số đức Khổng Tử được vua yêu chuộng, dân chuộng.
– Các sao kể trên Mệnh an Ng cung, tựa như số Hàn Tín thụ phong làm tướng 6 nước.

69. Hạn phùng La, Võng, Nhật, Nguyệt giao huy, Kiếp, Không, Dương-nhận: Lưu Bang cam nhập Bao Trung.
Vận hội Cơ, Lương, Quyn, Xương, Tam hoá, Phụ, Bật, Song Hao: Hán ế nhập Tần phá Sở.
– Các sao kể trên lâm vào Thìn, Tuất (La-Võng) hạn Lưu Bang bị Hạng Vũ ép vào đất Bao Trung (rồng vào ao tù)
– Hạn bặp các sao kể trên: Lưu Bang vào đất Tần, đuổi được Hạng Vũ, thống nhất thiên hạ (rồng ra biển)

70. Mệnh vô chính diệu hạn ngộ Trúc la: ào, Hồng, Suy, Tuyệt: Khổng Minh nan cầu táng th
Mệnh đắc Tướng, Liêm hạn phùng La Võng, à-la, Tham, Linh: Hàn Tín th tử đao hình.
– Hạn gặp Sát, Phá, Tham (Trúc la) thêm ào, Hồng, Suy, Tuyệt và Mệnh vô chính diệu, chẳng khác chi Gia Cát không cưỡng được cái chết với tri.
– Mệnh Hàn Tín cư Ng Tướng, Liêm, Kình: Hạn đến cung Thìn gặp Tham, Linh, à-là bị Lã Hậu giết.

71. Nhan Hồi yểu th do hữu ào, Hồng, Không, Kiếp, à, Linh thủ Mệnh.
ạo Trích th tang do ư Nhật, Nguyệt, Cơ, Lương miếu nhập Mệnh Thân
– Các sao kể trên ở Mệnh, tựa như số Nhan Hồi yểu tử (34 tuổi)
– Gặp các sao kể trên ở Mệnh, tựa như số ạo Trích (ăn trộn i Thất quốc) th 74 tuổi

72. Nhật, Nguyệt cư Mộ cung mục thống trin miên
Phụ, Giải, Hổ, Tang; nhi phùng Sát, Dục hữu tự thốn thừa.
– Sao Âm, Dương ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (mộ cung) Mệnh an có thêm Sát tinh hay đau mắt.
– Cung Phụ-mẫu, Tật-ách đối nhau, chiếu vào Tử-tức gặp Tang, hổ, Kiếp-sát, Mộc-dục: đẻ con thiếu tháng, hoặc thừa ngón chân ngón tay.

73. Thai phùng Sát, Dục tu phòng phụ sản.
Kiếp, Cơ, ngộ Hoả tất ngộ hoả tai.
– Các sao kể trên ở Mệnh, Giải, Tử-tức của đàn bà: khó đẻ.
– Các sao kể trên ở Mệnh, Giải: đ phòng lửa cháy, dầu sôi.

74. Linh phùng Sứ, Mã nhi ngộ Dương, à hữu tật tứ chi.
Khốc, Khách, Kiếp, Phù mạc ngộ Cự, Dương trung thân đa lệ.
– Các sao kể trên ở Mệnh, Giải: chân tay có tật.
– Các sao kể trên ở Mệnh, Giải: hay đau mắt, ướt mắt.

75. Hạng Vũ anh hùng ngộ ịa-không nhi táng quốc.
Thạch Sùng cự phú ngộ ịa-kiếp nhi vong gia
– Hạn gặp ịa-không, tựa như Hạng Vũ bị tan sự nghiệp.
– Hạn gặp ịa-kiếp, tựa như Thạch Sùng bát mẻ không còn.

76. Mệnh lý Không vong, Kiếp thủ Thân, trung niên tất thị tác cơ bần.
Mệnh phùng Lộc, Cự, Không, Thân, Sứ mãn Kiếp toàn phùng phương thiểu khiếm.
– Mệnh, Thân gặp có Không, Kiếp giầu sang không bn, hoặc ăn ở bần tiện.
– Mệnh Thân gặp các sao kể trên suốt đi chỉ phong lưu hoặc thiếu, chứ không giầu to (xin nhớ: Lộc-tồn chứ không phải Hoá-lộc)

77. Phàm toán lai Mệnh thế, tu soái th, bần, chi cách. Phàm chiêm vận hạn hành, tu phòng lúc sát lai sâm.
– Xem số cần quyết định giầu nghèo, t yểu, là điu cốt yếu. Còn xem vận hạn, phải tìm Kình, à, Không, Kiếp, Linh, Hoả trước tiên.

Thái Vi Phú

0

Đấu sổ chí huyền chí vi, lý chỉ nan minh, tuy thiết vấn vu các Thiên chi trung, do hữu ngôn nhi vị tận, chí như tinh chi phân dã, các hữu sở thuộc, th yểu hin ngu, phú quý bần tiện, bất khả nhất khái luận nghị.

Kỳ tinh phân bố nhất thập nhị viên, sổ định hồ tam thập lục vị, nhập miếu vi kỳ, thất độ vi hư, đại để dĩ Thân Mệnh vi Phúc đức chi bản, gia dĩ căn nguyên vi cùng thông chi tư.
Tinh hữu đồng trin, số hữu phân định, tu minh kỳ sinh khắc chi yếu, tất tưng hồ đắc viên thất độ chi phân.
Quan hồ Tử vi xá trin, ti nhất Thiên nghi chi tượng, suất liệt túc nhi thành viên, Thổ tinh cẩu cư kỳ viên, nhược khả di động, Kim tinh chuyên ti tài khố, tối phạ Không vong.
ế tinh động tắc liệt tú bôn trì, Tham thủ Không nhi tài nguyên bất tụ.
Các tư kỳ chức, bất khả tham soa.
Cẩu hoặc bất sát kỳ cơ, cánh vong kỳ biến, tắc sổ chi tạo hóa viễn hĩ.

Lệ viết:
1- Lộc phùng trùng phá, cát xứ tàng hung. Mã ngộ Không vong, chung thân bôn tẩu.
2- Sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa. Tuyệt xứ phùng sinh, sinh hoa bất bại.
3- Tinh lâm miếu vượng, tái quan sinh khắc chi cơ. Mệnh ta cưng cung, tế sát chế hóa chi lý.
4- Nhật Nguyệt tối him phản bối. Lộc Mã tối hỉ giao trì.
5- Thảng cư Không vong, đắc thất tối vi yếu khẩn. Nhược phùng bại địa, phù trì đại hữu kỳ công.
6- Tử vi Thiên phủ toàn y Phụ Bật chi công. Thất sát Phá quân chuyên y Dương Linh chi ngược.
7- Chư tinh cát, phùng hung dã cát. Chư tinh hung, phùng cát dã hung.
8- Phụ Bật Giáp đế vi thượng phẩm. ào hoa phạm chủ vi chí dâm.
9- Quân thần khánh hội, tài thiện kinh bang.
10- Khôi Việt đồng hành, vị cư thai phụ. Lộc văn củng Mệnh, quý nhi thả hin.
11- Nhật Nguyệt giáp Tài, bất quyn tắc phú. Mã đầu ới kiếm, trấn vệ biên cương.
12- Hình Tù giáp Ấn, hình trượng duy ti. Thiện Ấm triu cương, nhân từ chi trưởng.
13- Quý nhập quý hương, phùng chi phú quý. Tài cư Tài vị, ngộ giả phú xa.
14- Thái Dương cư Ng, vị chi Nhật lệ trung Thiên, hữu chuyên quyn chi quý, địch quốc chi phú.
15- Thái âm cư Tí, hào viết thủy trừng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài.
16- Tử vi Phụ Bật đồng cung, nhất hô bách nặc cư thượng phẩm. Văn Hao cư Dần Mão, vị chi chúng thủy triu
đông.
17- Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hợp, Ấm Phúc tụ bất phạ hung nguy.
18- Tham cư Hợi Tí, danh vi Phiếm thủy đào hoa. Hình ngộ Tham lang, hào viết phong lưu thải trượng.
19- Thất sát Liêm trinh đồng vị, lộ thượng mãi thi. Phá quân m diệu đồng hương, thủy trung tác trủng.
20- Lộc cư Nô bộc túng hữu quan dã bôn trì. ế ngộ hung đồ tuy hoạch cát nhi vô đạo.
21- ế ta kim xa tắc viết kim dư phủng trất. Phúc an Văn diệu vị chi ngc tụ thiên hương.
22- Thái Dương hội Văn xương vu Quan lộc, hoàng điện triêu ban, phú quý toàn mỹ.
23- Thái âm hội Văn khúc vu Thê cung, thim cung chiết quế, văn chương toàn thịnh.
24- Lộc tồn thủ vu in Tài, đôi kim tích ngc. Tài Ấm ta vu Thiên di, cự thương cao cổ.
25- Hao cư Lộc vị, duyên đồ khất thực. Tham hội vượng cung, chung thân thử thiết.
26- Sát cư Tuyệt địa, thiếu niên yểu tự Nhan Hồi. Tham ta Sinh hương, th khảo vĩnh như Bành Tổ.
27- Kị m đồng cư Thân Mệnh Tật ách, trầm khốn uông doanh. Hung tinh hội vu Phụ mẫu Thiên di, hình thương
phá tổ.
28- Hình Sát đồng Liêm trinh vu Quan lộc, gia hữu nan đào. Quan phù gia Hình Sát vu Thiên di, ly hương tao phối.
29- Thiện Phúc cư Không vị, Thiên trúc sinh nhai. Phụ Bật đan thủ Mệnh cung, ly tông thứ xuất.
30- Thất sát lâm vu Thân Mệnh gia ác sát, tất định tử vong. Linh Dương hợp vu Mệnh cung ngộ Bạch hổ, tu đương hình lục.
31- Quan phủ phát vu cát diệu, lưu sát phạ phùng Phá quân. Dương à bằng Thái tuế dĩ dẫn hành, Bệnh phù Quan phù giai tác ha.
32- Tấu thư Bác sĩ dữ lưu Lộc, tận tác cát tưng. Lực sĩ Tướng quân đồng Thanh long, hiển kỳ quyn thế.
33- ồng tử hạn như thủy thượng phao ẩu, lão nhân hạn tự phong trung nhiên chúc. Ngộ sát vô chế nãi lưu niên tối kị,
Nhân sinh vinh nhục hạn nguyên tất hữu hưu cữu, xử thế cô bần sổ trung phùng hồ bác tạp, hc chí thử thành huyn vi hĩ.

Hình tính phú

0

1- Nguyên phu Tử vi đế ta, sinh vi hậu trng chi dung. Thiên phủ tôn tinh, dã tác thuần hòa chi thể.
2- Kim ô viên mãn. Ngc th thanh kỳ.
3- Thiên cơ vi bất trưng bất đoản chi tư, tình hoài hảo thiện.
Vũ khúc nãi chí yếu chí khẩn chi thao, tâm tính quả quyết.
4- Thiên đồng phì mãn, mục tú thanh kỳ.
Liêm trinh mi khoan, khẩu khoát diện hoành, vi nhân tính bạo, hảo phẫn hảo tranh.
5- Tham lang vi thiện ác chi tinh, nhập miếu tất ứng trưng tủng, xuất viên tất định ngoan hiêu.

6- Cự môn nãi thị phi chi diệu, tại miếu đôn hậu ôn lương.
Thiên tướng tinh thần, Thiên lương ổn trng, tâm sự ngc khiết băng thanh.
7- Thất sát như Tử Lộ bạo hổ phùng hà. Ha Linh tự Dự Nhượng thốn than trang ách.
Bạo hổ phùng hà h mục thái hung ngoan, thôn thán trang ách h ám lang thanh trầm.
8- Tuấn nhã Văn xương mi thanh mục tú.
Lỗi lạc Văn khúc khẩu thiệt tiện nịnh, tại miếu định sinh dị chí, thất hãm tất hữu ban ngân.
9- Tả phụ Hữu bật ôn lương quy mô, đoan trang cao sĩ.
Thiên khôi Thiên việt cụ túc uy nghi, trng hợp Tam thai tắc thập toàn mô phạm.
10- Kình dương à la hình xú mạo thô, hữu kiểu trá thể thái.
11- Phá quân bất nhân, bối trng mi khoan, hành ta yêu tà gian trá, hảo hành kinh hiểm.
12- Tính mạo như xuân hòa ái, nãi thị Lộc tồn chi tính đức.
Tình hoài tự ha phong xung, thử thành Phá Hao chi uy quyn.
13- Tinh luận miếu vượng tối phạ Không vong, sát lạc Không vong cánh vô uy lực.
14- Quyn Lộc nãi cửu khiếu chi kỳ, háo tích tán bình sinh chi phúc.
15- Lộc phùng Lương Ấm bão tư tài ích dữ tha nhân, Hao ngộ Tham lang dâm tình vu tỉnh để.
16- Tham tinh nhập vu mã viên dịch thiện dịch ác. c diệu phù đồng Thiện diệu bẩm tính bất thưng.
17- Tài cư Không vong ba tam lãm tứ, Văn khúc vượng cung văn nhất tri thập.
m hợp Liêm trinh vi tham lạm chi tào lại.
18- Thân Mệnh ti sổ thực gian đạo chi kỹ nhi, trư đồ chi lưu.
Thiện Lộc định thị kỳ cao chi nghệ tế xảo, linh lỵ chi nhân.
19- Nam cư sinh vượng tối yếu đắc địa, Nữ cư tử tuyệt chuyên khán phúc đức.
20- Mệnh tối him lập vu Bại vị. Tài nguyên khước phạ phùng Không vong.
21- Cơ Hình Sát Ấm cô tinh luận tự tục chi cung gia ác tinh Kị Hao, bất vi kỳ đặc.
22- à Hao Tù chi tinh thủ Phụ mẫu chi trin, quyết nhiên phá tổ hình thương.
23- Kiêm chi đồng cách nghi tương, căn cơ yếu sát.
24- Tử vi phì mãn, Thiên phủ tinh thần. Lộc tồn Lộc chủ, dã ứng hậu trng.
25- Nhật Nguyệt Khúc tương đồng Lương Cơ Xương giai vi mỹ tuấn chi tư,
nãi thị thanh kỳ chi cách, thượng trưng hạ đoản mục tú mi thanh.
26- Tham lang đồng Vũ khúc hình tiểu thanh cao nhi lượng đại, Thiên đồng như à Kị phì mãn nhi mục miểu.
27- Kình dương thân thể tao thương, nhược ngộ Ha Linh Cự m tất sinh dị chí.
Hựu trị Hao Sát định chủ hình xú mạo thô.
28- Nhược cư Tử Tuyệt chi hạn, đồng tử nhũ bộ đồ lao kỳ lực, lão giả diệc nhiên th chung.
29- Thử sổ trung chi cương lĩnh, nãi vi tinh vĩ chi cơ quan. Ngoạn vị chuyên tinh, dĩ tham huyn diệu.
30- Hạn hữu cao đê tinh tầm hỉ nộ, giả như vận hạn bác tạp chung hữu phù trầm.
31- Như phùng sát địa canh yếu thôi tưng thảng, ngộ Không vong tất tu tế sát.
Tinh nghiên vu thử bất hoạn bất thần.

Nữ Mệnh cốt tủy phú chú giải

0
1) Phủ Tướng chi tinh nữ Mệnh triền, tất đương tử quý dữ phu hiền.
Ngọ cung an Mệnh nhị tinh tọa thủ, Giáp sinh nhân hợp cách. Tí cung an Mệnh nhị tinh tọa thủ, Kỷ sinh nhân hợp cách. Thân cung an Mệnh nhị tinh tọa thủ, Canh sinh nhân hợp cách, tất thụ vinh ưng phong cáo thị dã.

2) Liêm trinh thanh bạch năng tương thủ.
Thử tinh Mùi cung an Mệnh, Giáp sinh nhân hợp cách. Thân cung tọa Mệnh, Quý sinh nhân hợp cách. Dần cung tọa Mệnh, Kỷ sinh nhân hợp cách, câu vi thượng cục.

3) Cánh hữu Thiên đồng lý diệc nhiên.
Thử tinh Dần cung tọa Mệnh, Giáp sinh nhân hợp cách. Mão cung tọa Mệnh, ất sinh nhân hợp cách. Tuất cung tọa Mệnh, Đinh sinh nhân hợp cách. Tỵ cung tọa Mệnh, Bính Tân sinh nhân hợp cách. Hợi cung tọa Mệnh, Bính Nhâm sinh nhân hợp cách, nhi chủ phú quý.

4) Đoan chính Tử vi Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tính khả bằng.
Tí Tỵ Hợi tam cung an Mệnh, nhị tinh tọa thủ bất gia sát chủ phú quý.

5) Thái Dương Dần đáo Ngọ, ngộ cát chung thị phúc.
Ngọ cung an Mệnh Thái Dương tọa thủ định chủ phú quý, hãm địa bình thường.

6) Tả phụ Thiên Khôi vi phúc thọ, Tả Bật Thiên tướng phúc lai lâm.
Tứ tinh chư cung đắc địa, như Thân Mệnh trị thử tọa thủ, định chủ phúc thọ vinh Xương.

7) Lộc tồn hậu trọng đa y thực, Phủ Tướng triều viên Mệnh tất vinh.
Lộc tồn chư cung thủ Mệnh Tịnh Kiến Tử Phủ Vũ khúc tam hợp thủ chiếu, bất phú tức quý. Duy Dần tại Thân, Thân tại Dần, vi triêu viên chi cách, Giáp Canh sinh nhân thượng cục, Tân Ất sinh nhân thứ chi. Bính Mậu Đinh Kỷ Nhâm Quý sinh nhân, ngộ Tỵ Hợi Tí Ngọ an Mệnh bất cát.

8) Tử Phủ Tỵ Hợi tương hỗ phụ, Tả Hữu phù trì phúc tất sinh.
Tỵ Hợi nhị cung an Mệnh, ngộ Tử Phủ Tả Hữu thủ chiếu trùng giáp, canh kiêm hóa cát tinh đa, phú quý tất hĩ.

9) Cự môn Thiên cơ vi phá đãng.
Dần Mão Thân cung an Mệnh Cự Cơ phùng chi, tuy vi vượng địa, nhiên chung phúc bất toàn mỹ, hoặc phú quý bất miễn tư tình, như cư hãm địa hạ tiện.

10) Thiên lương Nguyệt diệu nữ Mệnh bần.
Tỵ Hợi an Mệnh Thiên lương trị chi. Dần Thần an Mệnh Thái âm trị chi, túng sử trinh chính y Lộc nan toại, như hãm địa tắc chủ hạ tiện.

11) Kình dương Hỏa tinh vi hạ tiện.
Thử nhị tinh thủ Mệnh vượng cung do khả, đãn hình khắc bất miễn nhĩ. Như cư hãm địa gia sát chủ hạ tiện, bất nhiên tắc yểu.

12) Văn xương Văn khúc phúc bất toàn.
Thử nhị tinh nghi nam bất nghi nữ dã.

13) Vũ khúc chi tinh vi quả tú.
Thử tinh nghi nam bất nghi nữ, như trị Thái âm đắc lệnh tam phương cát củng khả vi nữ tướng. Như hãm địa ngộ Xương Khúc gia sát tắc chủ cô quả.

14) Phá quân nhất diệu tính nan minh.
Thử vi cô độc dâm dật chi tinh, nữ nhân bất nghi, gia tứ sát tất nhân gian mưu phu, nhân đố hại tử, bất nhiên tắc vi hạ tỳ xướng kỹ khả dã.

15) Tham lang nội ngoan đa dâm dật.
Thử danh vi Đào hoa, nãi hảo sắc chi tinh, bất dung thiếp tỳ, tâm hữu tật đố, nhân gian mưu phu hại tử, túng bất chí thử chi thậm dâm dật tối nghiệm.

16) Thất sát trầm ngâm phúc bất vinh.
Thử tương tương chi tinh, nhược cư miếu vượng, chủ vi nữ tướng. Bí vân: Cơ Nguyệt Dần Thân nữ Mệnh phùng, ác sát gia chi dâm xảo dung, tiện hữu cát hóa chung bất mỹ, thiên phòng thị phụng chủ nhân ông.

17) Thập kiền Hóa Lộc tối vinh xương, nữ Mệnh phùng chi đại cát xương, canh đắc Lộc tồn tương thấu hợp, vượng phu ích tử thụ ân quang.
Như Mệnh tọa hóa Lộc, hựu đắc Lộc tồn trùng hợp, hoặc tuần phùng hoặc đồng cung, giai chủ Mệnh Phụ chi quý, bất nhiên diệc chủ đại phú tất sinh quý tử.

18) Hỏa Linh Dương Đà cập Cự môn, Thiên không Địa kiếp hựu tương lâm, Tham lang Thất sát Liêm trinh tú Vũ khúc gia lâm khắc hại xâm.
Đại để thử đẳng tinh nữ Mệnh bất nghi phùng, như nội phùng nhất nhị diệc chủ dâm tiện, nhược tịnh kiến chi, chủ hạ tiện bần yểu chi Mệnh hĩ.

19) Tam phương tứ chính hiềm phùng Phá, canh tại phu cung họa hoạn thâm, nhược thị bản cung vô chính diệu, tất chủ sinh ly khắc hại chân.
Thử dụ tiền sổ tinh chi trung, duy Thất sát tam phương tứ chính Thân Mệnh phu cung câu bất nghi kiến, kiến chi giả y thử đoạn.
Dĩ thượng luận phú câu hệ khán Mệnh chi Pháp, điều điều hữu nghiệm, nghi tế ngoạn vị, đắc chi vu tâm, kỳ phú quý bần tiện vinh hoa thọ yêu, liễu nhiên tại hung khảm hĩ.

Phú Tử vi của Lê Quí Đôn

0

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Mệnh

Một là bàn đến Mệnh viên.
Cứ sao thủ Mệnh đoán nên tính tình.
Tử Vi trọng hậu dung hình.
Thiên Phủ tiết hạnh, thông minh ôn hòa.
Hai sao đều gặp một nhà.
Thiên tư ôn nhuận thiệt là tốt ghê.
Lòng thanh tịnh gặp Thiên Cơ.
Khúc Tinh nhập miếu, anh kỳ tài năng.
Thái Âm viên mãn ai bằng.
Thiên Đồng phì mãn, tính bằng ôn lương.
Phá, Liêm to nhỏ khác thường.
Tính tình cương trực, kết đường tà gian.
Thiên Lương từ hậu dung nhan.
Sát, Hình miếu địa, khôn ngoan anh hùng.
Tham Lang tính bẩm thung dung.
Say miền gái đẹp, rượu nồng miếng ngon.
Thái Dương tính khí thực khôn.
Thanh kỳ bậc nhất, tư lương khác thường.
Kìa như Văn Khúc, Văn Xương.
Tư nhan khả ái, thông đường văn chương.
Cự Môn tính khí bất thường.
Hể khi xử sự, tìm đường đảo điên.
Thiên Tướng, lòng thẳng mặt hiền.
Thiên tư mỹ lệ Khoa, Quyền hẳn hoi.
Thanh bần ấy thật Việt, Khôi.
Lại thêm Thai Phụ là nòi khoan dung.
Phụ Bật tuấn tú vốn dòng.
Đáng tài hơn chúng, tốt dùng chẳng không.
Phụ Bật đơn thủ Mệnh cung.
Đoán rằng số ấy ly tông cửa nhà.
Phượng, Trì đều hợp Mệnh ta.
Làm người cốt cách, ôn hòa tốt thay.
Tuế, Riêu họa xướng như lời.
Kình, Hư lòng gió là người sai ngoa.
Mây mưa ấy thật Đào Hoa.
Lòng kia đố kị, Kình, Đà xấu trông.
Trán đen, tính nóng, Kiếp Không.
Hỏa, Linh mặt mũi hình dung bi sầu.
Tuế Phá lạc hãm một âu.
Tiếng tăm như sấm ra màu vẽ vang.
Kìa như nói chẳng hé răng.
Thiên Hình đốn thủ chốn đằng Mệnh cung.
Lộc, Mã khéo kiêm nàn nồng.
Phúc, Thư bá đạo, mong trông một lòng.
Hoa Cái má phấn lưng ong.
Hỷ Thần dài dọng, tam hung, tràng đầu.
Triệt, Không tính những chẳng âu.
Hung trung vô định ra màu gian nan.
Tuế, Tham trong dạ đa đoan.
Kị, Riêu tửu sắc, một đàn ngao du.
Hổ, Tang chẳng việc mà lo.
Quan Phù, Điếu Khách hay phô rộng lời.
Lưỡng Hao nhỏ nhặt hình người.
Phi Liêm tóc tốt, có tuổi mà đau.
Quý, Ân phong độ trượng phu.
Chẳng hay quân Tử hình thù cũng xinh.
Tướng Quân chỉ thích dụng binh.
Bệnh Phù đối tật trong mình chẳng không.
Cô , Quả thiết kị riêng lòng.
Trường Sinh, Đế Vượng vốn lòng Thiên Lương.
Đào Hoa, Mộc Dục diễm trang.
Lâm Quan tính khí dịu dàng, tinh anh.
Mộ thì chẳng được thông minh.
Thai hay mê hoặc lại hay tha tùng.
Triệt mà gặp được Kim cung.
Tinh thần thanh sảng, thung dung đế thần.
Tuyệt phùng Hỏa Địa một khi.
Hiên ngang chí khí, gặp thì thung dung.
Kìa Suy, Bệnh, Tử ba dòng.
Gặp vào nước ấy, ai dung, ai màng?
Hóa Lộc tính khí dịu dàng.
Bác Sĩ tính nết tìm đường tư hoa.
Thiên Đức, Nguyệt Đức khoan hòa.
Lộc Tồn đôn hậu, thiệt là qui mô.
Phá Quân tâm tính hồ đồ.
Kiếp Sát xử sự ba đào mênh mông.
Xem trong nhân tính đã xong.
Lại tinh cho thấu các cung Ngũ hành.
Tường chân tính, nhận chân hình.
Chẳng non chấp nhất, lựa mình mà suy.
Ví như thuộc Thổ Tử Vi.
Tính trì mà gặp Hỏa thì lại nhanh.
Thiên Phủ vốn tính hóa lành.
Song gặp Không, Kiếp thời rằng khắc thâm.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Phụ Mẫu

Số hai Phụ Mẫu kể tường.
Âm, Dương, ngộ hãm là đường khắc xung.
Hãm Dương, khắc phụ đã xong.
Hãm Âm khắc mẫu vào vòng chẳng sai.
Hổ, Tang, Thái Tuế cùng bày.
Lưu Dương lại gặp đoán rày khắc cha.
Gặp sao Hóa Kị khiếm hòa.
Thiên Hình, Tuần, Triệt mẹ cha mất rồi.
Cáo, Phụ có chức, có ngôi.
Khúc, Xương, Thái Tuế thì người cũng sang.
Khôi, Khoa phát đạt khoa tràng.
Khôi, Quyền chính trướng đường đường tốt thông.
Thanh bần ấy phải Kị, Không.
Nhược bằng Lộc Mã phú ông ai tày.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Phúc Đức

Số ba Phúc Đức kể liền.
Lộc, Quyền hội ngộ trong miền bản cung.
Ở đời vinh hiển đã xong.
Kiếp, Không ở đấy bần cùng khốn thay.
Nay đây mai đó càng hay.
Lại xem cung ấy sống tày được bao?
Đồng, Lương, Tử , Phủ bốn sao.
Trên tuần bát cửu thọ nào ai hơn.
Âm, Dương, Xương, Khúc, Lộc Tồn.
Với sao Thiên Tướng, Cự Môn tinh trần.
Thọ mệnh vượt khỏi thất tuần.
Miếu thì thong thả, hãm thì tân toan.
Liêm Cự ta lại phải bàn.
Ngoại tuần lục thập mới hoàn Diêm la.
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Quyền, Khoa.
Lộc, Tham, Đế Vượng thật là Trường Sinh.
Đà La, Dương Cự, Hỏa, Linh.
Vào thì ba bốn rành lành chẳng sai.
Kiếp, Không, Hỷ khổ cùng bày.
Thiên Hình, Hóa Kị mới loài bạch tang.
Nhị Phù tổn thọ một phương.
Thật là lạc Mộ , nên đường chẳng sai.
Sát, Liêm, Tứ Sát cùng bày.
Kẻ lâm bần yểu xưa nay rõ ràng.
Cao thanh, Thọ, Quý, Ân Quang.
Những là sao ấy thọ tràng kỳ hy.
Lại lấy Thân, Mệnh mà suy.
Nam tinh chính chiếu thọ kỳ vô cương.
Đã xem hướng thọ đoán tường.
Lại xem Phúc Đức đoán phương âm phần.
Trường Sinh chính nhất thập phần.
Gặp sao Quan, Phúc, Quý thần chầu trong.
Phúc, Liêm, Nội ngoại thong dong.
Khoa, Quyền, Xương, Khúc vốn dòng văn gia.
Vũ, Tham mà gặp Hóa Khoa.
Ấy là đất phát để ra anh hùng.
Cự Môn, Hóa Lộc tương phùng.
Đoán rằng phú quý gia phong đời đời.
Nay là đoán trước mấy lời,
Được đất ấm nghiệm chẳng sai đâu là.
Lại xem hướng mạch kể ra,
Trước thì khởi tố ấy là Trường Sinh.
Thanh Long ấy cuộc long hành,
Đến đâu nhập thủ xem hình chiếu lâm.
Phải lấy chi tự (Địa chi) phân kim,
Xem cho chuẩn đích đoán tìm mới ngoan.
Trước so Dương Nhận, Hồng Loan,
Nga mi tác án yên bàn chẳng sai.
Long, Hồng là thủy nhập hoài.
Tùy cung mà đoán cho người mới thông.
Lại như Vũ Khúc, Triệt Không,
Lấy làm hành lộ khuỳnh khuỳnh trước sau.
Long Trì Bạch Hổ lại chầu,
Xem bên Tả, Hữu mới hầu luận xong.
Bên tả có sao Thanh Long,
Lấy Long Trì thủy chầu vòng tả biên.
Bên hửu Bạch Hổ đã yên,
Lấy làm Bạch Hổ chầu bên hữu này.
Lại xem tinh tú yên bày,
Thái Dương, Vũ, Tướng cùng rày Phá Quân.
Khoa, Quyền, Khôi, Việt tinh trần,
Lấy làm Dương Mộ mười phần chẳng sai.
Còn như đoán mả đàn bà,
Xem sao miếu vượng gần xa, đoán đời.
Tử , Phủ, Tổ Mộ chẳng chơi,
Lạc nhàn thì đoán gần đời mà suy.
Thiên Đức, Nguyệt Đức một vì,
Mộ phần thiên táng ấy thì chẳng sai.
Phúc từ tông tổ truyền ngay,
Vũ năm, Đồng tứ, chẳng sai chút nào.
Liêm Trinh bảy tám đời cao.
Thái Dương là bố, lẻ nào chẳng tin.
Cha còn thì đoán ông liền,
Ấy là Dương Mộ đoán miền Dương tinh.
Thiên Phủ viên tổ đã đành.
Tham sáu, Cự bảy, Lương rành tám thôi.
Phá Quân, Thất Sát xa đời.
Thái Âm là mẹ gần nơi đó mà.
Nếu còn thì kể đến bà.
Ấy là Âm Mộ thuộc tòa Âm cung.
Thiên Đức, Nguyệt Đức tương phùng.
Mộ phần thiên táng ắt cùng chẳng sai.
Suy xem tình tính hẳn hòi.
Ấy là chứng nghiệm mà soi cho tường.
Đà La ngộ Dưỡng chẳng thường.
Đoán rằng đạo táng gần phương mã này.
Lại tùy chính diệu suy bày.
Lại nhân Không, Kiếp đoán rày lạc phân.
Hoa Cái, Phượng Các tân phần.
Tấu Thư, Xương, Khúc là thần đồng ra.
Hoặc là Khôi, Việt thêm Khoa.
Đạikhoa sự nghiệp vinh hoa vô cùng.
Lộc Tồn, Hóa Lộc tương phùng.
Ấy là phú quý vốn dòng chẳng không.
Tử Vi nhập miếu vượng cung.
Phá Quân có kẻ chầu trong vương kỳ.
Lương, Tham thọ khảo kỳ hy.
Lại xem đất phát cung phi vẻ nào.
Bởi chưng Hoa Cái, Hồng, Đào.
Gặp sao Tử , Thái gái chầu quân vương.
Đế Vượng đóng chính cung tường.
Ắt là trong họ vượng đường nhân đinh.
Tuế, Phù tụng sự tương tranh.
Lộc Tồn, Cô, Tú, độc đinh thường thường.
Tang Môn, Quả Tú bất thường.
Ắt là trong họ gái thường quả phu.
Phục Binh ngộ Tử phải lo.
Có người bị trận, chết co ngoài đường.
Mộ cư Phúc Đức đường đường.
Lại thêm Thai, Tọa ấy trường sinh ta.
Hỷ Thần, Thiên Hỷ hoặc gia.
Ấy là đắc địa chẳng hòa được đâu.
Lại bàn hình thể mỗi màu.
Tổ sơn là Tử , Phủ chầu kể ra.
Mộc Tinh là Thiên Cơ gia.
Kim tinh Vũ Khúc, Mộc là Tham Lang.
Văn Khúc là Thủy đạo đường.
Liêm Trinh là Hỏa, Thiên Lương Thổ này.
Âm long, Âm hướng Thái Âm.
Thất Sát cùng Hỏa Tinh lâm.
Phá Quân là Thủy, Cự tầm Thổ tinh.
Thiên Đồng, Thiên Tướng đất binh,
Sao Dưỡng là núi, sao Linh bút bày.
Mộc, Trì là giếng gần đây,
Thiên Quan, Thiên Phúc gần ngay Phật, Thần.
Kiếp, Không lo táng Dương phần.
Kị, Riêu là Thủy, Thất nhân hoàng tuyền.
Thanh Long có suối lưu truyền.
Bạch Hổ đá trắng ở biên Mộ đường.
Khoa, Quyền là bảng văn chương.
Lộc, Kị, Việt kiếm rõ ràng đó đây.
Ấy là phần mộ đoán bày.
Cốt xem Phúc Đức mới hay mọi đường.

(Tứ Sát là Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp)

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Điền Trạch

Bốn, là bàn đến Cung Điền.
Phủ, Vi đóng đấy, tài điền vượng thay.
Vũ, Cơ tài sản cũng hay.
Song hiềm hoán dịch ngày này nhiều phen.
Âm, Dương miếu ấy đa điền.
Nhược bằng ngộ hãm vào miền bằng chân.
Thiên Đồng hậu dị, tiên nan.
Tham Lang tổ nghiệp phá tan lại thành.
Cự Môn tổ nghiệp tan tành.
Sinh ra đời chắc sau rành được yên.
Sát tinh bỗng chốc mà lên.
Nhược phùng hãm địa, bình yên thường thường.
Phá Quân của khéo dỡ dang.
Nhược bằng ngộ hãm là tường khó khăn.
Tướng, Lương, Phù, Bật, Khoa, Văn.
Việt, Khôi, Quyền, Lộc, Mã gần Trường Sinh.
Điền viên đều vượng tậu thành.
Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Đà, Kình lục tinh.
Nhị Hao, Kiếp Sát, Phục Binh.
Không Vong, Tang Tú Phù Tinh vô điền.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Quan Lộc

Năm là Quan Lộc đoán ngay.
Thái Dương, Xương, Khúc ở đây cung này.
Sân rồng chầu chực đêm ngày.
Đoán rằng số ấy tốt thay lạ thường.
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Cơ, Lương.
Khoa, Quyền, Tử , Phủ hợp cùng Trường Sinh.
Tướng, Đồng, Lộc, Mã, Vũ tinh.
Đều là cát tú cho mình vang danh.
Âm, Dương, Quyền, Lộc được rành.
Nếu mà hãm địa ắt thành lại hao.
Liêm Trinh vũ chức, quyền cao.
Nhược bằng ngộ hãm , khỏi nào hình danh.
Tham Lang mà gặp Hỏa, Linh.
Miếu thì phú quý, hãm thì bình thôi.
Thất Sát, Tí, Ngọ, ở ngôi.
Vượng thì võ chức, hãm thời hình thương.
Phá Quân lao khổ trăm đường.
Nhược ngôi Tí, Ngọ tài thường vượng thay.
Tham Lang, Xương, Khúc ngày rày.
Ngọ cung Tỵ, Hợi quan này làm ru.
Liêm Tham, Đà, Cự phải lo.
Cung quan lận đận, quanh co phận mình.
Phù, Tang, Không, Kiếp, Hỏa, Linh.
Khốc, Hư, Đà, Nhận, Kiếp, Kình nhị Hao.
Phục Binh, Phá, Tú, hội vào.
Đoán rằng quyền lộc làm sao cũng hèn.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Nô Bộc

Sáu là Nô Bộc đoán tường.
Tử , Phủ, Tả, Bật, Âm, Dương, Lương Đồng.
Việt, Khôi, Tam Hóa, tương phùng.
Cáo, Loan, Cơ, Mã lại cùng Tướng tinh.
Quý, Quang, Xương, Khúc cùng lành.
Vũ tinh mà đóng rành rành bản cung.
No thì nó ở hầu ông.
Đói thì nó bước chẳng mong nói gì.
Liêm Trinh kìa nó càng ghê.
Làm ân nên oán trăm bề mỉa mai.
Tham Lang vì nó hao tài.
Cự Môn báo oán những loài thị phi.
Thất Sát sinh sự thị phi.
Phá Quân hàn khổ như thì cận quanh.
Còn như Không, Kiếp, Phục Binh.
Dương, Linh, Đà, Kị, Thiên Hình, Khốc, Hư.
Nhị Hao, Quan Phủ, Quan Phù.
Gặp phường trộm cắp phải lo tổn tài.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Thiên Di

Bảy là bàn đến Thiên Di.
Lộc Tồn, Hóa Lộc tốt thì hòa hai.
Vũ, Lương, cự phú chẳng sai.
Khúc, Xương, Tử, Phủ, Việt, Khôi, Khoa, Quyền.
Âm, Dương, Tả, Hữu rất hiền.
Cùng là Đồng, Tướng gần miền quý nhân.
Thiên Cơ lẩn thẩn, khốn thân.
Nhược bằng ngộ Cát, mười phần tốt thay.
Liêm Trinh nội trợ, ngoại hay.
Đi thì cũng lợi, mới tầy Tham Lang.
Lại thêm dâm dục hoang tàng.
Vũ tinh xuất ngoại lại càng được yêu.
Cự Môn khẩu thiệt đảo điên.
Nhị Phù, Phá, Tú cũng miền Thiên Di.
Đoán rằng lộ thượng, mai thi.
Phá Quân, Thất Sát ắt thì chẳng yên.
Tham Lang, Hóa Kị hợp miền.
Luận rằng lộ tử, chẳng tuyền được đâu.
Cự Môn, Linh, Hỏa xung nhau.
Tử ư đạo lộ ra màu xo ro.
Liêm Trinh, Quan Phủ, Quan Phù.
Ấy là tử nghiệp chẳng hòa được đâu.
Kìa như đạo lộ phải âu.
Bởi Liêm, Sát, Phá vào hầu Thiên Di.
Tứ Sát đóng chính cung tường.
Ách nguy thêm lại hại đường tổ tông.
Vũ, Liêm chẳng khá đồng cung.
Luận rằng số ấy bần cùng ai qua.
Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Dương, Đà.
Tham Lang, Hình, Kị cùng là Khốc, Hư.
Phá Quân phường ấy phải lo.
Thiên Di cung ấy đoán cho kỹ càng.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Tật Ách

Tám là Tật Ách chẳng âu.
Âm, Dương phản bội làm màu bất minh.
Mệnh cung có Địa Không tinh.
Nhan manh mục tật, rành rành phải đương.
Phá, Liêm, Hình, Kị, Đà, Dương.
Đã đau bên mắt, lại càng bệnh điên.
Khúc, Xương, Tả, Hữu vào miền.
Việt, Khôi, Tử , Phủ, Khoa, Quyền, Đồng, Lương.
Lộc Tồn, Hóa Lộc một phương.
Ốm thì lại gặp thuốc thang sợ gì.
Thiên Cơ phải chứng thấp tê.
Nhược bằng thêm Sát mặt thì vết ngang.
Phong đàm bệnh ấy liền liền.
Bởi sao Cơ, Khúc đóng miền Ách phương.
Nhược bằng gia Sát, trỉ vương.
Thái Âm đau bụng, Thái Dương đau đầu.
Thêm Đà, Kị, Sát cũng rầu.
Đoán rằng mục tật, ấy hầu phải đau.
Phá Quân khí huyết bất điều.
Đồng, Lương, hàn, nhiệt là điều phải lo.
Tướng thì đau ở bì phu.
Âm, Dương, Cự, Liêm, hình thù cơ nghinh.
Đà La, Dương Nhận ít yên.
Đau chân, nhức mắt chẳng hiền được đâu.
Dương, Đà, Phá, Kị mắt đau.
Bởi đường sao ấy gặp tầy Tham Lang.
Sát tinh thấp khí yếu đau.
Tử, Sát có bệnh bởi hầu Sát gia.
Tham Lang Tật Ách xông pha.
Lưng, chân có bệnh, chẳng hòa được chăng.
Cự Môn mặt vết rõ ràng.
Tứ chi có tật xấu chàng hổ ai.
Kị, Hình đau mắt chẳng sai.
Kình, Đà, Linh, Hỏa cùng loài một phương.
Mặt kia có vết rõ đường.
Lại thêm bệnh trỉ nên thường phải e.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Tài Bạch

Thứ chín kể đến Cung Tài.
Để mà thí nghiệm mấy lời kể ra.
Vũ, Lộc, Thiên Mã cùng gia.
Tử , Phủ mà gặp, phương xa nhiều tiền.
Tử Vi, Tả, Hữu rất hiền.
Lâm Quan Tài Bạch ngoài miền lợi danh.
Thái Âm mà với Vũ tinh.
Luận bàn cũng phải rành rành chẳng sai.
Âm, Dương, Tả, Hữu giáp lai.
Có sao Đế Vượng cùng ngồi chính trung.
Luận làm địch quốc phú phong.
Đồng, Cơ, Vũ Khúc, tay không làm giàu.
Âm, Dương tài vượng khá mau.
Nhược bằng hãm địa, có hầu lại không.
Sát tinh đóng Tí, Ngọ cung.
Hoạnh tài hoạnh phát đùng đùng chứa chan.
Chủ cung phút hợp phút tan.
Lộc Tồn, Hóa Lộc giàu sang trăm đường.
Phá Quân tụ tán chẳng thường.
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Khúc, Xương, Khoa, Quyền.
Với sao Hóa Lộc ở miền.
Ấy là phát phúc, Tài, Điền vượng hay.
Liêm Trinh sao ấy luận ngay.
Lộc Tồn, Vũ Khúc đóng rầy Tài cung.
Ấy là đại phát phú ông.
Kiếp, Không ở đấy, bần cùng chẳng sai.
Dương, Đà, Linh, Hỏa tán tài.
Hỏa, Hình, Hư, Khốc cùng loài như nhau.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Tử Tức

Thứ mười Tử Tức kể bày.
Trước sinh nam tử, nhiều bày Nam tinh.
Bắc tinh ấy gái trước sinh.
Sinh ngày Âm Kị chiếm rành bản cung.
Sinh đêm Dương Kị chiếm cung.
Âm, Dương lâm Tí là vòng khắc xung.
Vắng sao chính diệu Tử cung.
Phải tìm đối chiếu luận cùng mới xong.
Phủ, Vi, Đế Vượng, Thiên Đồng.
Khúc, Xương, Tả, Hữu luận cùng năm tên.
Nhược bằng gặp Sát cũng hèn.
Dương, Âm, cùng ngộ Lâm Quan một đoàn.
Tướng, Lương, Quan Đới rõ ràng.
Ấy là cung được ba hàng thành thân.
Khoa, Quyền, thêm Lộc tinh trần.
Việt, Khôi, Thiên Mã mười phần quý nhân.

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Phu Thê

Mười một bàn đến Thê cung.
Nhân thê trí phú bởi phùng Thái Dương.
Âm phùng Hao Tú một phương.
Thành hôn chẳng lọ phải đường cưới xin.
Dương, Đồng đa vợ mà hiền.
Kìa như Lộc Mã tại điền vượng thay.
Âm phùng Xương, Khúc ngày rày.
Cung trăng bẻ quế xem tày lên tiên.
Tử, Phủ hòa hợp bách niên.
Đồng, Cơ trai gái kết nguyền cũng xinh.
Trai tơ gái trẻ đã rành.
Âm, Dương miếu địa sớm thành nhân duyên.
Nhược bằng hãm địa sau nên.
Vũ tinh gia Sát đôi bên khiếm hòa.
Tướng, Lương sớm nổi thành gia.
Sát gia sắc đẹp lấy nhà trưởng nhân.
Khúc, Xương, Tả, Hữu tinh trần.
Thông minh giai lão trăm phần tốt thay.
Lộc Tồn muộn vợ nhưng hay.
Tham Lang sớm lấy người rày khắc xung.
Tham mà gặp Sát tối hung.
Phá Quân sớm khắc, ít lòng chính chuyên.
Liêm Trinh phải khắc ba tên.
Cự Môn, Thất Sát luận bàn chớ quên.
Sát tinh xung khắc đã quen.
Ấy người dâm dục về miền trăng hoa.
Khôi, Việt, gặp Lộc, Quyền, Khoa.
Quý nhân sánh mấy duyên ta tốt lành.
Linh Tinh, Kị, Hỏa, Đà, Kình.
Khốc, Hư, Không, Kiếp đã rành khắc xung.
Nhược bằng Cát Tú tương phùng.
Cùng là giúp được vào vòng thiên ninh.
Tam phương mà gặp Sát, Hình.
Ly hương kết phối rành rành chẳng sai

Phú Lê Quí Đôn Cho Cung Huynh Đệ

Mười hai Huynh Đệ bàn liền.
Triệt, Không cũng thấy trong miền bản cung.
Bắt đầu thì đoán khắc xung.
Hoặc gia Địa Kiếp, Thiên Không chẳng nhiều.
Tướng Quân, Lộc, Mã cũng nhiều.
Anh em giàu có phú nhiêu được dùng.
Tướng Quân, Hóa Lộc tương phùng.
Anh em có kẻ ở trong cửa quyền.
Trường Sinh, Đế Vượng lâm liền.
Anh em có kẻ tất nhiên yên bài.
Thái Dương, Thái Âm giáp Thai.
Sinh đôi một đối chẳng sai tí nào.
Vượng, Thai, Tuyệt, Tướng thấu vào.
Anh em ắt có dị bào chẳng không.
Đào, Riêu, Thiên Hỷ trong cung.
Phá Quân tính xử đối xung ở ngoài.
Có chị em gái theo trai.
Say mê đến nỗi hoang thai hổ mình.
Trong thì Tướng, Phá, Phục Binh.
Ngoài thì Hoa Cái cung tinh Đào, Hồng.
Tường hoa liễu ngỏ ngóng trông,Anh em có kẻ dâm thông hẳn là.
Gặp sao Hóa Kị khiếm hòa.
Thiên Hình thường có trong nhà giành nhau.
Lộc, Mã buôn bán làm giàu.
Nhược bằng Cự, Tướng ra màu thổ công.
Tử, Phù, Hữu, Bật tương phùng.
Có chị em gái lộn chồng đi ra.
Thiên Khôi ba kẻ anh ta.
Thiên Việt ba kẻ em ta bày đoàn.
Xương, Khúc, Thái Tuế đều yên.
Có người xã trưởng khôn ngoan ai cùng.
Tuyệt, Không, Không, Kiếp chính cung.
Hoặc gia Cát hội lai phùng Dương tinh.
Luận làm nghĩa dưỡng anh em.
Hoặc thêm Đà, Cự, Hỏa, Linh, đoán cùng

ĐOÁN HẠN TỬ BIỆT:
Lại xem sinh tử đoàn niên
Vận cung Thái-tuế Lưu-niên cung nào
Sát, Dương, Thương, Phục, Không, Hao (1)
Hoả, Linh, Kị, Kiếp chiếu vào hạn cung (2)
Ghê thay đại-tiểu trùng phùng (3)
Đế tinh thụ hãm Không-vong đó mà (4)
Ấy là vận hạn khó qua.
Lại Tham, Sát, Phá, Trúc-la thoát nào (5)
Đế, Tướng tam hợp chiếu vào
Hoạ may khỏi chết bởi sao cát phù
Bảo cho biết trước mà lo.

———————
(1): Dương = Dương Nhận (Kình).
(2): Kị = Đà La (cũng có thể thay bằng Hoá Kị)
(3): Các cách như thế, cũng như Tử vi ngộ Không vong, mà hai hạn (đại hạn và tiểu hạn) trùng phùng, thì Mệnh chết.
(4) Tử vi gặp hung sát tinh (Không Kiếp Kình Đà) và Tuần Triệt.

Tăng bổ Thái vi phú

0
1. Tiền hậu lưỡng hung thần vi lưỡng lân, gia hội thượng khả xanh trì, đồng thất dữ mưu tối nan đề phòng.

2. Phiến hỏa phần Thiên mã. Trọng dương trục Lộc tồn.

3. Kiếp Không thân thích vô thường. Quyền Lộc hành tàng mỹ định.

4. Quân tử tại Khôi Việt, tiểu nhân tại Dương Linh.

5. Hung bất giai hung, cát vô thuần cát.

6. Chủ cường Tân nhược khả bảo vô ngu, chủ nhược Tân cường hung nguy lập kiến.

7. Chủ Tân đắc thất lưỡng tương nghi, vận hạn Mệnh Thân đương hỗ kiến.

8. Thân Mệnh tối hiềm Dương Đà Thất sát, ngộ chi Mùi miễn vi hung.

9. Nhị hạn thậm Kị Tham Phá Cự Liêm, phùng chi định nhiên tác họa.

10. Mệnh vận Khôi Xương thường đắc quý, hạn phùng Tử Phủ định tài đa.

11. Phàm quan nữ nhân chi Mệnh, tiên quan Phu Tử nhị cung.

12. Nhược trị Sát tinh định tam giá nhi tâm bất túc, hoặc phùng Dương bột tuy đề khốc nhi lệ bất kiền.

13. Nhược quan nam Mệnh thủy dĩ Phúc Tài vi chủ, tái thẩm Thiên di hà như.

14. Nhị hạn tương nhân, cát hung đồng đoạn.

15. Hạn phùng Cát diệu bình sinh động dụng hòa hài, Mệnh tọa hung hương nhất thế cầu mưu trở ngữ.

16. Liêm Lộc lâm thân, nữ đắc thuần âm trinh khiết chi đức. Đồng Lương thủ Mệnh, nam đắc Dương, thuần trung chính chi tâm.

17. Quân tử Mệnh trung diệc hữu Dương Đà Hỏa Linh. Tiểu nhân Mệnh nội khởi vô Khoa Lộc Quyền tinh.

18. Yếu khán đắc viên thất viên, chuyên luận nhập miếu thất miếu.

19. Nhược luận tiểu nhi, tường thôi đồng hạn.

20. Tiểu nhi Mệnh tọa hung hương, nhị ngũ tuế tất nhiên yểu chiết, Canh hữu hạn phùng ác sát, ngũ thất tuế tất chủ tai vong.

21. Văn xương Văn khúc Thiên khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân.

22. Đa học thiểu thành chích vi Kình dương phùng Kiếp Sát. Vi nhân hảo tụng cái nhân Thái tuế ngộ Quan phù.

23. Mệnh chi lý vi thục sát tinh thần chi biến hóa, số chi lý viễn tế tường cách cục chi hưng suy.

24. Bắc Cực gia hung sát vi đạo vi tăng. Dương Đà ngộ ác tinh vi nô vi bộc.

25. Như Vũ Phá Liêm Tham cố thâm mưu nhi quý hiển, gia Dương Đà Không Kiếp phản tiểu chí dĩ cô hàn.

26. Hạn phụ tinh vượng hạn tuy nhược nhi bất nhược. Mệnh lâm cát địa Mệnh tuy hung nhi bất hung.

27. Đoạn kiều Triệt lộ đại tiểu nan hành, Mão Dậu nhị Không thông minh phát phúc.

28. Mệnh Thân ngộ Tử Phủ điệp tích kim ngân, nhị chủ phùng Kiếp Không y thực bất túc.

29. Mưu nhi bất toại, Mệnh hạn ngộ nhập Kình dương. Đông tác Tây thành, hạn thân tao phùng phụ tướng

30. Khoa Quyền Lộc củng, định vi ban quế chi cao nhân. Không Kiếp Dương Linh, tác cửu lưu chi thuật sĩ.

31. Tình hoài sướng thư Xương Khúc Mệnh Thân, quỷ trá phù hư Dương Đà hãm địa.

32. Thiên cơ Thiên lương Kình dương hội, tảo hữu hình nhi vãn kiến cô.

33. Tham lang Vũ khúc Liêm trinh phùng, thiểu thụ bần nhi hậu hưởng phúc.

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC