32 C
Hanoi
Thứ Hai, 24 Tháng Sáu, 2024
spot_img
Trang chủ Blog Trang 21

Sơ luận về Tứ Hóa

0
Vẽ tranh phong cảnh bằng bút chì đẹp đơn giản

(Trích bài viết của Thầy TUETVNB)

1. Tứ hóa là Hóa LộcHóa QuyềnHóa KhoaHóa Kị. Là thùy tượng của tổ hợp sao trong đẩu số ứng với thời gian. Cho nên, phối hợp tứ hóa để đoán cát hung phải lấy Sao làm thể, Tứ hóa làm dụng.

2. Hóa Lộc – Ngũ hành thuộc Kim, ứng số 4,9 ở phương tây, chủ về mùa Thu. Mùa thu – là lúc vạn vật thu tàng, thông qua gặt hái mà thu lợi. Cho nên Hóa Lộc chủ vất vả, được lợi, tài lộc, thực lộc, hưởng thụ, nhân duyên, giải ách, quý nhân, tình duyên, thông minh và tài nghệ. Khởi đầu của việc tốt (nguyên nhân dẫn tới cái sự tốt).

3. Hóa Quyền – Ngũ hành thuộc Hỏa, ứng số 2.7 ở phương Nam. Hỏa bốc lên mà chủ về nóng nhiệt. Nên Hóa Lộc chủ về thế lực, tranh chấp, thành tựu, nỗ lực phấn đấu, cao ngạo, sĩ diện, giá trị gia tăng, bá đạo, tự phụ, không khuất phục, cầm quyền, tài hoa, giỏi giang, chuyên kỹ thuật, cố chấp, quản lý chặt chẽ, phung phí, ngoại thương, bệnh cấp tính. Hóa Quyền tốt nhất là nên nhập Tài- Quan cung, còn nếu nhập vào Lục thân cung thì dễ xuất sinh tranh chấp, cọ sát.

4. Hóa Khoa – Ngũ hành thuộc Mộc, ứng với số 3,8 ở phương Đông, chủ về mùa Xuân. Mùa xuân thuộc Mộc, trong cái vòng sinh sôi bất tận thì chính là thời điểm manh nha, đâm chồi. Vì thế, Khoa chủ sinh trưởng, giáo hóa, công danh, thanh danh, thiện duyên, quý nhân, giải ách, khoa giáp, danh dự, quý trọng, thanh bạch, thuận lợi, cao thượng, khí chất tốt.

5. Hóa Kị – Ngũ hành thuộc Thủy, ứng với số 1,6 ở phương Bắc. Phương Bắc là nơi trời Đông lạnh giá. Vạn vật thu tàng, suy kiệt. Cho nên Hóa Kị chủ thu tàng, cất chứa, suy kiệt, không thuận, ẩn trạng, tình nghĩa, đạo nghĩa, quản thúc, bám dính, hung hiểm, dịch mã, tai họa, biến thiên, thua thiệt, tử vong, mê muội, tự ti, tật bệnh, phá tài, lục thân hình khắc, thị phi, quan tụng, tai nạn xe cộ.

6. Hóa Lộc tối kị Không Kiếp, Không Vong, Hóa Kị – đó là cách “Lộc phùng xung phá”. Rất tốt nếu được cát tinh, quyền tinh, khoa tình hội hợp.

7. Hoa Quyền mà tam hợp có Hóa Khoa, Khôi Việt thì chủ về văn chương, danh tiếng vang xa.

8. Hóa Khoa hội Khôi Việt Xương Khúc chủ về khoa giáp. Nhưng nếu gặp Kình Dương, Hỏa tinh thì dễ vất vả. Khoa hội Kiếp Không, chủ về khoa giáp bất thuận, có tài mà không gặp thời.

9. Hóa Kị mà lạc hãm, gặp hại thì càng hung hiểm. Gặp Kị tinh hội hợp hay xung phá đều là không tốt. Riêng kị tinh xung phá thì lại trở nên lợi hại.

10. Hóa Lộc nhập lục thân cung, thì gia đình tình nghĩa, lục thân tốt.

11. Hóa Quyền nhập lục thân cung, dễ gặp xung đột trong gia đình, nhiều ý kiến.

12. Hóa Khoa nhập lục thân cung thì tình cảm gia đình trước sau đều đẹp

13. Hóa Kị nhập lục thân cung, là sự quản thúc, quan tâm, thiếu nợ, là nghiệp quả.

14. Hóa Lộc nhập tài bạch cung, tài nguyên dồi dào, dễ kiếm tiền mà cũng dễ tiêu tiền.

15. Hóa Quyền nhập tài bạch cung, có khả năng quản lý tài chính, vận dụng tài chính.

16. Hóa Khoa nhập tài bạch cung, tài nguyên thuận lợi, việc làm tốt.

17. Hóa Kị nhập tài bạch cung, dễ vì tiền mà phiền não, nguồn tài chính cũng không thuận, câu nệ vào chuyện tiền bạc, dễ thành nô lệ của tiền bạc, việc làm tốt.

18. Hóa Lộc nhập Quan Lộc, vận khí cả đời tốt, có nhiều khả năng phát huy trên đường sự nghiệp.

19. Hóa Quyền nhập quan lộc, trong sự nghiệp thường được nắm quyền hành, là cách của ông chủ thực sự.

20. Hóa Khoa nhập quan lộc, Sự nghiệp bình thuận, công việc tốt, hợp với mình.

21. Hóa Kị nhấp quan lộc, cả đời gặp vận khí xấu, trên đường sự nghiệp ít nhất phải trải quan một lần khốn đốn mà về sau mới may ra có thành công. Là người rất câu nệ vào sự nghiệp.

22. Hóa Lộc nhập Điền trạch, là người nặng gánh gia đình, nhưng tuổi trẻ đã dễ dàng tạo dựng được sản nghiệp. Cũng là người biết quan tâm, lo lắng đến gia đình.

23. Hóa Quyền nhập điền trạch, thích gia trưởng, thích quản chế từ công việc trong nhà đến gia nhân. Đối với Lục thân thường dễ có tranh chấp. Tuổi trẻ dễ tạo dựng được điền sản.

24. Hóa Khoa Nhập cung Điền trạch, gia trạch bình thuận, trong gia đình, quan hệ trong gia đình tốt, tuổi trẻ dễ tạo dựng điền sản, gia phong nền nếp.

25. Hóa Kị nhập Điền trạch, gia trạch không thuận, thường gặp cảnh đau lòng trong gia đình, gia đình không hòa thuận. Phải vãn niên mới tạo dựng được điền sản của chính mình.

26. Họa Lộc nhập tật Ách, là người lạc quan, nhưng tuổi nhỏ thường nhiều tật bệnh.

27. Hóa Quyền nhập Tật ách, là người ngang ngược, tuổi trẻ thường gặp thương tích.

28. Hoa Khoa nhập tật ách, người có phọng độ, tuổi trẻ bình an, ít tật bệnh.

29. Hóa Kị nhập tật Ách, là người tự ti, nội tâm, tuổi nhỏ thường gặp nhiều tai ách.

30. Hóa Lộc nhập Phúc đức, là người thích hưởng thụ, tiêu tiền không biết tiếc, tâm tình thư thái, nhưng cũng là người bận rộn.

31. Hóa Quyền nhập Phúc Đức, là người tiêu tiền phung phí, người thường béo đầy, tâm không nhàn.

32. Hóa Khoa nhập Phúc đức, là người tiêu tiền có kế hoạch, tâm tình nhàn tản, bình hòa.

33. Hóa Kị nhập Phúc đức, không cso tiền tiêu, có tiền cũng không dám tiêu, cả đời vất vả, không một phút thanh nhàn.

34. Hóa Lộc nhập Thiên Di, đi ra ngoài dễ gặp quan hệ tốt

35. Hóa Quyền nhập thiên di, ra ngoài dễ tranh chấp, nhưng cũng rất dễ thành công, có quyền hành.

36. Hóa Khoa nhập Thiên Di, đi ra ngoài được bình thuận, gặp gỡ quan hệ tốt.

37. Hóa Kị nhập Thiên Di, đi ra ngoài bất thuận, lý hương lập nghiệp thì tốt, (càng xa càng tốt).

38. Hóa Lộc nhập Mệnh, Thông Minh, tự lập, quan hệ tốt, có khả ăng giải trừ tai ách.

39. Hóa Quyền nhập Mệnh, tính tự cao, phóng khoáng, chuyên quyền, cơ trí, không dễ tiếp thu ý kiến của người khác, hay chủ quan, thích quản chế tất cả mọi chuyện.

SÁT PHÁ THAM và TỨ HÓA

Ngày xưa, cổ nhân thường không thích cách Sát Phá Tham. Phần nhiều đều cho nó là hung cách hoặc hạ cách.

Vì xưa cho rằng :
Tham lang mê hoa luyến tửu
Phá quân cừu thị lục thân
Thất sát thân ngâm bất phúc

(Tham lang thì thường mê đắm tửu sắc,
Phá quân coi lục thân như kẻ thù,
Thất sát thì hay than vãn mà chẳng có phúc).

Phần nhiều là đều chê bai mà ít khi tán dương. Nhưng trong xã hội hiện đại, nắm được tiên cơ, thành công trong sóng gió – lại là một phương thức rất thích hợp với Mệnh có cách Sát Phá Tham. Thậm chí có người còn cho rằng, có không ít Mệnh của những nhân vật thành đạt, đều là Sát Phá Tham cách. Là những người có ý chí đặc biệt, lại thích nghi được với hoàn cảnh, vì thế dễ dàng tận dụng được cơ hội mà thành công.

Tứ hóa trong Tử vi vốn là một điểm trọng yếu, cho đến nay thì vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng nào cho việc xuất sinh của Tứ hóa. Quan hệ của Sát Phá Tham và Tứ hóa cũng là một quan hệ cơ bản của Tử vi. Nhân lúc rảnh rỗi, thử ghé mắt bàn qua xem thế nào.

Trước hết, trong Thập can hóa diệu thì chúng ta có thể thấy rằng, trong tổ hợp với Tứ Hóa, thì Phá Quân chỉ đi với Quyền, LộcTham lang đi với Quyền Lộc Kị. Riêng Thất sát thì không hóa, và Sát Phá Tham không hóa với Hóa Khoa.

Người tuổi Giáp : Phá Quân – Hóa Quyền
Người tuổi Quý : Phá Quân – Hóa Lộc
Người tuổi Mậu : Tham Lang – Hóa Lộc
Người tuổi Kỷ Thang Lang – Hóa Quyền
Người tuổi Quý : Tham Lang – Hóa Kị

Với người tuổi Giáp : được gặp tổ hợp Phá quân – Hóa quyềnHóa quyền chủ về quyền hành, hơi có tính chuyên quyền gia trưởng. Phá quân cũng là một sao chủ về cương liệt, rất chuyền quyền, độc tôn. Vì thế mà khi tổ hợp này đứng với nhau, nếu lập vào Mệnh thân thì tuy cũng là một cách quý, nhưng có điểm yếu là hay cố chấp, trong giao tiếp thường thiếu tính mềm dẻo, ôn hòa. Do vậy, cũng rất dễ dẫn đến tranh đấu, sát phạt. Nếu gặp vận xấu hoặc sát tinh hội hợp thì có thể mạng họa vào thân, nếu được Cát tinh trợ giúp thì cũng là kẻ “thân tâm bất nhàn”.

Thành công đối với người tuổi Giáp, mệnh lập Phá quân trong trường hợp này thường xây trong khó nhọc. Trong đời đa phần phải trải qua bôn ba mới thành nghiệp. Tuy nhiên, khi vận đến thì như diều gặp gió, không có gì có thể cản trở.

Trong tổ hợp của Tứ Hóa với Sát Phá Tham, đặc biệt có người tuổi Quý là được cả Phá Quân, Tham lang cùng hóa. Phá – Hóa Lộc, Tham – Hóa Kị.

Phá gặp Lộc, các sách tử vi thường cho rằng tốt, nhưng trên một phương diện nào đó thì tổ hợp này cũng cần xem xét cẩn thận. Bởi lẽ khi ấy, Tham lang sẽ gặp Hóa Kị. Bản thân Hóa Lộc chủ về sinh tài, hưởng lộc. Nhưng bản thân Phá Quân lại là Hao tinh, chủ về hao tán, cho nên khi kết hợp với nhau cũng khó lòng có thể nói là tốt. Phá Quân khó dụng được Hóa lộc, nếu có gặp cách tốt, thì bất quá cũng chỉ là được một giai đoạn đắc tài nhất thời, mà khó giữ đến chung cuộc.

Hơn nữa nếu lập Mệnh Thân là Phá Quân, thì Tham – Kị sẽ đóng ở cung Quan. Tham lang vốn không ưa Hóa Kị, bản chất của Tham vốn là sao của hư hoa, đam mê, sắc dục. Gặp hóa Kị thì giống như trang sách bị đổ mực, không thể toàn mỹ. Nhất là khi đóng cung Quan, tối kị gặp Tham – Kị rất dễ bị biếm chức, giáng quan.

Giữa Mệnh Thân và Quan lộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong trường hợp này, Mệnh biểu ý hao tán tiền tài, Quan biểu ý đứt gánh công danh. Do đó có thể phác thảo một đời người đầy thăng trầm, trong cuộc đời rất dễ có lần tay trắng. Là kẻ sĩ thì khó tránh khỏi gẫy đổ quan trường, là thường dân thì khó tránh khỏi khuynh gia bại sản. Nếu bị sát tinh xâm phạm, chính tinh lạc hãm thì rất nặng nề, nếu được cát tinh cứu giải thì tuy cũng đỡ được phần nào nhưng cũng khó tránh khỏi bôn ba vất vả…

Tất nhiên, đây mới chỉ là bàn riêng lẻ một góc, cốt yếu nhất vẫn phải là tổng thể toàn tinh bàn mới cho ra được lời giải luận bao quát.

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Hùng Tú Triêu Nguyên Cách

0

Tử vi không có cách HÙNG TÚ CÀN NGUYÊN, mà chỉ có cách HÙNG TÚ TRIỀU VIÊN. “Hùng tú” là mỹ danh của sao Liêm Trinh, khi triều về Mệnh thì gọi là HÙng Tú Triều Viên. Không phải là Thất sát.

Trong phần dịch trên có một số chỗ chưa chuẩn, để mọi người tham khảo, ta dịch lại giúp :

“Hùng Tú triều viên cách” – Tức là Liêm Trinh tại hai cung Mùi-Thân thủ mệnh (mệnh đóng vào đấy). Cổ ca nói rằng :”Thân Mùi liêm trinh đắc địa phương, túng gia thất sát bất vi hung, thanh danh hiển đạt phong vân viễn, nhị hạn ưu du phú quý trung.”

Tức là : Liêm trinh đắc địa tại hai cung Thân – Mùi, dù cho có gia Thất sát thì cũng chẳng thành hung cách được. Thanh danh ắt sẽ hiển đạt, tiếng tăm vang xa. Nhị hạn đi đến đấy chắc sẽ được phú quý cả hai đằng.

Liêm Trinh được gọi là Hùng Tú, là bởi vì nó có tính uy vũ, nguyên do Phá Quân là “Anh Tinh” sát khí lớn hơn tính chất “hùng tú” của Liêm Trinh. Phản ánh trên cuộc đời, người gặp phải Liêm trinh thủ mệnh thì tính tình bình hòa hơn, cuộc đời cũng ít bôn ba trắc trở.

Tại cung Liêm trinh đóng mà gặp Thất sát, bởi vì Liêm Trinh là Âm Hỏa, có khả năngrèn đúc cho Thất sát Âm Kim, biến Thất sát thành dụng cụ. Khi Liêm trinh và Thất sát đồng cư ở Mùi thì cố nhiên là có năng lực rèn đúc. Còn nếu Liêm trinh cư tại Thân, Thất sát cư Ngọ cũng có năng lực luyện kim, vì thế mà cổ nhân cho đó là cách đẹp.

Nguyên nhân tại Sửu cung cũng có Liêm Sát đồng cung như lại không được cho là đẹp, là bởi vì tại Mùi là đất Mộ của hành Mộc, Mộc sinh Hỏa, có lợi cho Liêm Trinh (2) (ND : tam hợp Mộc cục là Hợi – Mão – Mùi, trong đó Mùi là Mộ) còn Sửu là Mộ của hành Kim bất lợi đối với Liêm Trinh.

Nếu Dần cung mà gặp Liêm Trinh thì Thất Sát đóng tại Tí, cũng không phải là cách đẹp, nguyên do là vì nếu tại Thân thì Thân thuộc Kim mới có lợi cho cái sự rèn luyện của Liêm trinh (còn cung Dần thuộc mộc – bất lợi cho Liêm).

Cổ nhân luận đẩu số, đôi khi rất coi trọng Ngũ hành sinh khắc, mà cách này (hùng tú triều viên) là một ví dụ. Tuy nhiên, người sinh vào cách này, tất phải trải qua giai đoạn gian nan nguy hiểm rồi sau mới thành. Đây là đặc điểm cơ bản của cách này.

Kính.
TUETVNB

Tuyển dịch phần Phu Thê Cung trong “Tử vi đẩu số đại toàn”

0

夫妻宮
夫妻宮涵義:
紫微鬥數的夫妻宮配合其三方(含本�� �起算,順、逆數各第五宮),四正(� ��宮之「對宮」,即含本宮順逆數均第 七宮)星曜組合之特性,可以論斷一�� �人的 :
配偶之相貌、體型、個性、所從事的�� �業。
感情的性向,即結交異性朋友的方式�� �─浪漫主義或速戰速決。
處理感情的態度與方法。
婚姻生活的美滿度與「離異」變數之�� �寡。
較賞識的異性類型。
夫妻間感情之濃淡。
配偶較在意「精神面」或「物質面」�� �

Tử vi đẩu số lấy cung Phu thê phối hợp với Tam phương (bao gồm Bản cung và các cung tính từ cung phu thê theo chiều Thuận và Nghịch đến cung thứ 5), cung Tứ chính ( tức là bản cung và Đối cung, tức là từ bản cung tính thuận nghịch đến cung thứ 7). Tổ hợp các đặc tính của các tinh diệu, có thể luận đoán cho một cá nhân những vấn đề sau :

– Tướng mạo của người phối ngẫu, thể hình, cá tính, sở thích cá nhân cho đến sự nghiệp.

– Xu hướng của cảm tình, tức là kết giao theo phương thức bạn bè, lãng mạn chủ nghĩa, hoặc tốc chiến tốc quyết (đánh nhanh – thắng nhanh).

– Phương pháp xử lý tình cảm cho đến thái độ

– Sinh hoạt hôn nhân cho đến độ mỹ mãn hoặc li dị, biến đổi ít nhiều.

– So sánh, thưởng thức với các loại hính tính khác

– Tình cảm nồng – đạm của Vợ chồng

– So sánh người phối ngẫu trên phương diện tinh thần và vất chất.

男女兩盤同參,配合兄弟宮及命身、�� �祿、財帛、福德宮來看夫妻之對待關� ��、是聚是離的概率,則更準確。
命宮屬陰,為無形,而身宮屬陽,則�� �有形。所以命,身兩宮同參,較能抓� ��一個人的心性和其外貌之美醜。當「 身宮」與「夫妻宮」同宮時,除可看�� �本人 與配偶較易有「夫妻臉」之傾向外,�� �可知其人一生特別在意感情,容易有� ��情困擾。亦即其人對男女情感特別敏 銳,中晚年往住有感情困擾。但如夫�� �宮星曜旺 吉,則可因配偶得貴。
夫妻宮星曜解析:

Bàn chung cho cả Nam và Nữ, phối hợp với các cung Huynh đệ, Mệnh Thân, Quan lộc, Tài Bạch, Phúc đức để xem xét sự đối đãi với cung Phu Thê, đại khái đó là Tụ, là Chia, để thêm phần chuẩn xác

Mệnh cung thuộc Âm, là vô hình, mà Thân cung thuộc Dương, là hữu hình. Sở dĩ Mệnh, Thân hai cung cùng tham gia, vì khả năng của cá nhân dựa trên tâm tính hòa hợp, ngoại hình xấu đẹp. Thân cung với Phu Thê mà đồng cung (Thân cư Phu thê) thì có thể loại trừ khả năng đương số với người phối ngẫu có thể thay đổi (Phu thê kiểm soát), cũng có thể biết con người có thể sinh cái ý cảm tình đặc biệt, khó có sự thay đổi cảm tình. Cũng tức là đối với tình cảm Nam Nữ đặc biệt nhạy cảm, Thời trung-vãn niên đi qua, tình cảm vẫn còn lại không bị mờ nhạt. Còn như Cung Phu Thê mà có tinh diệu Cát Vượng, tất sẽ phối ngẫu với quý nhân.

Giải thích các sao đóng ở cung Phu Thê :

紫微:

紫微入夫妻宮會吉星, 配偶俊美, 因而得貴, 但易造成桃花之象; 紫微無會吉星則感情平淡. 男命尊重太太, 女命能因夫得貴. 紫微入夫妻宮選擇配偶眼光較高, 故不宜早婚.
Tử Vi :

Tử vi nhập cung phu thê mà hội được cát tinh, người phối ngẫu đẹp đẽ khôi ngô. Bởi thế nên cũng được gọi là quý cách. Nhưng dễ biến thành tượng của Đào Hoa (nhiều dâm tính, lẳng lơ). Nếu Tử vi mà không hội được cát tinh thì tình cảm nhạt nhẽo, Nam mệnh thì tôn trọng vợ, mà nữ mệnh thì có khả năng lấy được chồng quý.

Tử vi nhập phu thê cung, khi chọn người phối ngẫu nên tinh tường, kỹ lưỡng, không nên tảo hôn.

天機:
天機入夫妻宮配偶較勞碌,因天機主�� �務事,是以天機居女命宮、福德,常� ��為家務事而忙碌。夫妻多是非爭執、 口舌亦多,天機逢擎羊則不利配偶。�� �妻之生活方式宜聚少離多,感情會比� ��。配偶年齡差距較大,男得賢妻,個 性剛烈,女配夫必有學術專長。

Thiên cơ

Thiên cơ nhập cung Phu thê chủ về người phối ngẫu vất vả, bận rộn, bởi vì Thiên cơ chủ về việc nhà. Thiên cơ cư cung Mệnh nữ nhân, hoặc phúc đức thì thường gặp việc nhà bận rộn vất vả. Phu thê nhiều thị phi tranh chấp, nhiều khẩu thiệt. Nếu Thiên cơ gặp Kình dương thì bất lợi cho việc hôn nhân. Sinh hoạt vợ chồng nên gần ít, xa nhiều thì tình cảm mới được tốt. Người phối ngẫu chênh lệch tuổi tác nhiều thì Nam có thể lấy được vợ hiền nhưng cá tính cứng rắn. Nữ lấy được chồng sẽ là người có học thuật chuyên về một môn nào đó.

太陽:
太陽入夫妻宮廟旺逢吉星,男有賢內�� �,尊重妻子,妻能幹體壯,因妻而貴� ��太陽落陷加煞不利妻子,妻體弱多病 或早喪,女命則易喪夫。尤以夫妻在�� �宮, 太陽加煞化忌,主配偶易早喪或離異�� �感情易因忙碌工作而疏淡。不宜早婚� ��女命雖主貴,但丈夫較專制獨裁。女 太陽在戌、亥、子位,男在卯、辰、�� �位,主婚姻 不美,逢煞星有外遇,太陽在 丑、未宮感情複雜。

Thái Dương

Thái Dương nhập vào cung phu thê mà miếu vượng lại gặp được cát tinh thì Nam lấy được vợ hiền, tôn trọng vợ con, vợ là người khỏe mạnh, nhờ vợ mà được quý. Thái Dương lạc hãm, gia sát tinh thì bất lợi cho vợ con, vợ là người yếu ớt, nhiều bệnh, hoặc sớm mang tang vợ. Nếu là nữ mệnh thì dễ sớm để tang chồng. Đặc biệt, Nếu cung phu thê tại Tuất có Thái Dương gia sát tinh, hóa kị, chủ về phối ngẫu dễ mất sớm hoặc ly dị. Chuyện tình cảm dễ vị công việc bận rộn mà nhạt nhẽo. Không nên tảo hôn, nữ mệnh tuy chủ về QUÝ, nhưng thường là chồng chuyên chế độc tài. Nữ, cung phu thê tại Tuất, Hợi, Tí, Nam tại Mão, Thìn Tỵ, có Thái Dương thì chủ về hôn nhân không được tốt, gặp thêm sát tinh dễ ngoại tình. Thái Dương tại Sửu, Mùi thì tình cảm rất phức tạp.

武曲:
武曲入夫妻宮晚婚為宜,生活平淡較�� �氣氛,在四墓(辰、戌、丑、未宮)� ��偶內向。武曲逢「化權」易有爭執, 武曲逢擎羊、陀羅、化忌、火星、易�� �離死 別。武曲化權逢煞星加左輔或右弼,�� �緣不妙。武曲入夫妻宮男命娶妻個性� ��烈,獨立性強,不喜串門子,女命孤 獨晚婚,配夫個性較暴燥,較獨斷獨�� �。

Vũ Khúc

Vũ khúc nhập cung Phu thê nên kết hôn muộn, sinh hoạt vợ chồng bình thường, nhạt nhẽo không nồng nhiệt. Tại tứ mộ (thìn, tuất, sửu, mùi) người phối ngẫu thường hướng nội. Vũ khúc gặp Hóa quyền, dễ có tranh chấp, Vũ khúc gặp Kình dương, đà la, hóa kị, hỏa tinh thì dễ tử biệt sinh ly. Vũ khúc, hóa quyền gặp sát tinh, gia thêm tả phù hoặc hữu bật, chuyện hôn nhân không đẹp. Vũ khúc nhập Phu thê cung, Nam mệnh lấy vợ có cá tình cương liệt, tính cứng rắn mà độc lập, không thích quán xuyến nhà cửa con cái. Nữ mệnh thì cô độc, lấy chồng muộn, lấy chồng có tính cách táo bạo, độc đoán độc hành.

 

天同:
天同入夫妻宮男命得賢內助,聰明美�� �,女命得夫溫柔體貼,感情和睦。但� ��同於辰、戌、丑、未宮配偶年紀較小 ,易有外遇。

Thiên Đồng

Thiên Đồng nhập vào cung phu thê, Nam lấy được vợ hiền. thông minh xinh đẹp. Nữ lấy chồng ôn nhu chiều vợ. Tình cảm hòa thuận. Nhưng nếu Thiên Đồng đóng vào các cung Thìn Tuất Sửu Mùi, thì người phối ngẫu thường ít tuổi, dễ ngoại tình.

廉貞:
廉貞入夫妻宮夫妻和諧,但較不甜蜜�� �相敬如賓。廉貞逢化祿,易有豔遇;� ��貞逢化忌,易有感情糾紛。廉貞會七 殺,易常打架;廉貞會四煞〈羊、陀�� �火、鈴〉太太常挨揍;廉貞會貪狼,� ��撒嬌;廉貞會天府反吉。

Liêm Trinh

Liêm Trinh nhập Phu thê cung thì vợ chồng hài hòa, nhưng không ngọt ngào mà “tương kính như tân” (kính trọng nhau như khách). Liêm Trinh gặp Hóa lộc thì dễ gặp đàn bà đẹp. Liêm Trinh mà gặp Hóa Kị thì dễ có tranh chấp tình cảm. Liêm trinh gặp Thất Sát thường xảy ra đánh lộn. Liêm Trinh hội Tứ sát (Dương, Đà, Hỏa Linh) thì bà xã thường bị ăn đòn. Liêm Trinh hội Tham Lang thì thích làm nũng, Liêm trinh hội Thiên Phủ, ngược lại lại là tốt.

天府:
天府入夫妻宮男命妻子能幹,尊重太�� �,老婆理財能力強,上班族,持家有� ��,陷地嘮叨。女命老公大男人主義, 沈默、守財,感情平淡。天府入夫妻�� �較重精神享受;天府逢四煞星 (羊、陀、火、鈴)宜晚婚,耳根恐�� �得清靜。

Thiên Phủ

Thiên phủ nhập Phu thê cung, Nam mệnh lấy vợ có đảm đang, lại là người tôn trọng vợ, vợ có khả năng quản lý, phát huy tài chính tốt, là người có vai vế trong họ tộc – gia đình, quản lý gia đình tốt. Nếu Phủ hãm địa thì lại là người nói nhiều. Nữ mệnh lấy chồng rất có nam tính, trầm tĩnh, giữ tiền tốt, tình cảm bình thường. Thiên Phủ nhập phu thê cung thì thường vợ chồng coi trọng tinh thần hưởng thụ. Thiên Phủ gặp Tứ sát (dương – đà – hỏa – linh) thì nên kết hôn muộn, nếu không thì tai không lúc này được yên (ý nói là cãi nhau ầm ĩ).

 

HUYỀN VI PHÚ

0

HUYỀN VI PHÚ

(TUETVNB dịch)

Hi di tiên sinh viết: đẩu số chi lệ, do đại dịch chi phân bát quái. Bát quái phi thoán từ bất minh, chúng tinh phi giảng minh hà thố. Thị dĩ quan đẩu số giả, tái tam thẩm động tĩnh chi cơ, đệ nhất biện tân chủ chi phân. ộng tĩnh hồi quyển bất dĩ, chủ tân canh điệt vô câu. Chủ nhược vô tình, hà tân chi hữu? Tân bất năng đối, hà túc thủ tai?

Hi Di tiên sinh nói rằng : Lẽ của đẩu số, giống như cái sự phân bát quái của Dịch, Bát quái mà không có thoán từ thì không minh bạch được, chư tinh của đẩu số mà không giảng minh thì làm sao dùng được. Xem đẩu số, phải xem thật kỹ cái ộng cái Tĩnh. Thứ nhất là biện luận v phân chia Chủ-Khách. ộng – Tĩnh thì quay vòng không dứt mà chủ-khách luân phiên không ri. Chủ mà vô tình thì làm sao có khách, khách mà không ứng đối, thì sao gặp chủ được?

Quý bỉ dương đà, duy thị lộc tồn chi hảo ác, nhập ngô nhật nguyệt, dã tư không kiếp chi hưng vong. Sát hữu sát nhi vô hình, tuy sát hữu cứu. Hình hữu hình nhi cô đan, chung thân bất khắc. Ha tinh vượng cung vi phú luận, dương đà đắc lệnh khởi thành hung.

Quý Dương – à, chỉ có Lộc tồn là thích tính ác của nó, xem vào Nhật Nguyệt, cũng nên nghĩ đến sự hưng vong của Không Kiếp. Sát gặp Sát mà vô hình thì tuy Sát vẫn có thể cứu, Hình gặp Hình mà cô đơn thì chung thân cũng không khắc. Ha tinh ở Vượng cung thì phải luận là Phú, Dương à mà đắc lệnh lại thành hung.

Lưỡng lân gia vũ, thượng khả xanh trì, đồng thất dữ mưu, tối nan phòng bị. Phiến ha phần thiên mã, trng dương trục lộc tồn. Kiếp không thân thích vô thưng, quyn lộc hành tàng mỹ định. Quân tử tai khôi việt, tiểu nhân dã dương linh. Hung bất giai hung, cát vô thuần cát. Chủ cưng tân nhược, khả bảo vô ngu, chủ nhược tân cưng, hung nguy lập kiến. Chủ tân đắc thất lưỡng tương nghi, vận hạn mệnh thân đương hỗ kiến.

Lưỡng lân mà uy hiếp, ngõ hầu vẫn có thể giữ vững, nhưng cùng một nhà mà ủ mưu thì rất khó phòng bị. Nơi Ha thì đốt chết Thiên Mã, mà chuồng Dê thì đuổi Lộc Tồn (1), Kiếp Không thân thích chẳng được bình thưng, Quyn Lộc mà ẩn đi thì hoài phí.
Quân tử thay! – Khôi Việt
Tiểu nhân vậy! – Dương Linh
Hung cũng không thể toàn hung, cát cũng chẳng thuần là cát, Chủ cưng khách nhược, chẳng cần lo nghĩ, Chủ nhược khách cưng thì hung nguy lin thấy. Chủ khách được mất đu cùng nhau, Vận Hạn thì Mệnh-Thân phải gánh.

(1) Nguyên văn câu này : Phiến Ha phần Thiên Mã, Trùng Dương trục Lộc tồn – chưa hiểu nghĩa, tạm dịch

Thân mệnh tối him dương đà thất sát, lâm chi vị miễn vi hung. Nhị hạn thậm kị sát phá cự tham, phùng chi định nhiên tác ha. Mệnh ngộ khôi xương thưng đắc quý, hạn phùng tử phủ định tài đa.

Thân mệnh rất kị Dương à Thất Sát, lâm vào khó tránh được tai ương.
Nhị hạn tối kị Sát Phá Cự Tham, gặp nó nhất định gây ha
Mênh ngộ Khôi-Xương thưng quý hiển
Hạn phùng Tử-Phủ ắt nhiu tin.

Phàm quan nữ nhân chi mệnh, tiên quan phu tử nhị cung, nhược trị sát tinh, định tam giá nhi tâm bất túc; hoặc phùng dương đà, tuy đ khốc nhi lệ bất cán. Nhược đoạn nam mệnh, thủy dĩ tài phúc vi chủ, tái thẩm thiên di như hà, nhị hạn tương nhân, cát hung đồng đoạn. Hạn phùng cát diệu, bình sinh động dụng hợp hài; mệnh ta hung hương, nhất thế cầu mưu nan toại.

Phàm là xem mệnh nữ nhân, trước phải xem hai cung Phu-Tử, nếu gặp sát tinh, nhất định ba chồng vẫn chưa đủ. Hoặc gặp Dương à, tuy mắt khóc mà lệ chẳng rơi. Nếu đoán Nam mệnh, trước phải lấy Tài Phúc làm chủ, lại xem Thiên Di như thế nào. Nhị hạn mà cùng một nguyên nhân thì phải đoán có cả cát-hung. Hạn gặp sao tốt, suốt đi sẽ được hài hòa, Mệnh mà ngồi ở chỗ Hung, một đi suy tính không thành.

Liêm lộc lâm thân, nữ đắc thuần âm trinh khiết chi đức; đồng lương thủ mệnh, nam đắc thuần dương trung chính chi tâm. Quân tử mệnh trung, diệc hữu dương đà ha linh; tiểu nhân mệnh nội, khởi vô khoa quyn lộc tinh. Yếu khán đắc viên thất viên, chuyên luận nhập miếu thất miếu.

Liêm Lộc lâm vào Thân, Nữ được cái đức thuần âm trinh khiết
ồng Lương thủ mệnh, Nam được cái tâm thuần dương trung chính
Trong Mệnh ngưi quân tử, cũng có Dương à Ha Linh, nhưng trong Mệnh kẻ tiểu nhân không thể có Khoa Quyn Lộc.
Muốn xem ắc viên-Thất viên, phải luận Nhập miếu-Thất miếu.

Nhược luận tiểu nhi, tưng thôi đồng hạn. Tiểu nhi mệnh ta hung hương, tam ngũ tuế tất nhiên yêu chiết, canh hữu hạn phùng ác sát, ngũ thất tuế tất chủ yêu vong. Văn xương văn khúc thiên khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân. a hc thiểu thành, chích vi kình dương phùng kiếp sát. Vi nhân hảo tụng, cái nhân thái tuế ngộ quan phủ.

Nếu luận số cho tiểu nhi, phải biết xem ồng hạn, Tiểu nhi mệnh ở vào chỗ hung, dăm ba tuổi ắt yểu chiết, nếu thấy hạn phùng ác sát, năm bảy tuổi tất yểu vong. Có Văn xương Văn Khúc Thiên Khôi, chẳng đc sách mà nên ngưi. “a hc thiểu thành chỉ vì Kình Dương phùng Kiếp sát. Ngưi thích kiện tụng, phần lớn là do Thái Tuế ngộ Quan phù.
Mệnh chi lý vi, thục sát tinh thần chi biến hóa; sổ chi lý viễn, tế tưng cách cục chi hưng suy. Bắc cực gia hung sát, vi tăng vi đạo; dương đà ngộ ác tinh, vi nô vi bộc. Như vũ phá liêm tham, cố thâm mưu nhi quý hiển, gia dương đà không kiếp, phản tiểu chí dĩ cô hàn.

Muốn biết lẽ tinh vi của Mệnh, phải thạo cách xem tinh thần biến hóa
Muốn biết cái sâu xa của Số, phải tưng sự hưng suy của cách cục
Như Vũ Phá Liêm Tham, có mưu sâu mà quý hiển, thêm Dương à Không Kiếp, ngược lại là kẻ nghĩ ngắn mà lại cô hàn.

Hạn phụ tinh vượng, hạn tuy nhược nhi bất nhược; mệnh lâm cát địa, mệnh tuy hung nhi bất hung. oạn kiu tiệt không, đại tiểu nan hành; mão dậu nhị không, thông minh phát phúc. Mệnh thân ngộ tử phủ, điệp tích kim ngân; nhị chủ phùng kiếp không, y thực bất túc. Mưu nhi bất toại, mệnh hạn ngộ nhập kình dương; đông tác tây thành, hạn thân tao phùng phụ bật. Khoa quyn lộc củng, định vi kình trụ chi cao nhân; không kiếp dương linh, quyết tác cửu lưu chi thuật sĩ. Tình hoài thư sướng, xương khúc mệnh thân; quỷ trá phù hư, dương đà hãm địa. Thiên ki thiên lương kình dương hội, tảo hữu hình nhi vãn kiến cô; tham lang vũ khúc liêm trinh phùng, thiểu thụ bần nhi hậu hưởng phúc.

Phụ tinh nhập hạn mà vượng, thì hạn tuy nhược mà thành không nhược
Mệnh lâm cát địa, thì mệnh dẫu hung mà lại chẳng hung
Chặt cầu là Triệt Không, lớn bé đu khó qua, Nhị Không ở Mão Dậu, thông minh mà phát phúc.
Mệnh thân ngộ Tử Phủ, chồng chất bạc vàng.
Nhị chủ mà gặp Kiếp Không, ăn mặc không đủ.
Mưu mà không toại là bởi mệnh – hạn có Kình Dương ngộ-nhập, làm một được hai là bởi Thân – Hạn có Phụ Bật tao-phùng.
Khoa Quyn Cộc củng chiếu, nhất định là kẻ trụ cột cao nhân
Không Kiếp Dương Linh, nhất định là kẻ cửu lưu thuật sĩ
Ôm tình thư thái, do Xương Khúc ở Mệnh Thân
Dối trá hư huyn, là do Dương à hãm địa
Thiên Cơ Thiên Lương Kình dương hội, sớm thì gặp tội, mà muộn thì cô độc.
Tham Lang Vũ Khúc Liêm trinh phùng, nh chịu nghèo, mà sau hưởng phúc.

Thử giai đẩu số chi áo quyết, tập giả tưng chi.

Đây đều là cái sâu xa của đẩu số, người học nên biết.

SAO THIÊN TƯỚNG

0

Thiên tướng phụ luận:
Sao Thiên Tướng thuộc Nam đẩu tinh hệ, an cách Thiên Phủ 5 cung theo chiu thuận. Thiên tướng là sao hành thủy, chuyên trông coi việc binh nhung, phò trợ cho ế tinh. Trong nhóm Tử Phủ Vũ Tướng thì Thiên tướng đóng vai trò là Tá Tinh (sao trợ giúp). Hóa khí sao này là Ấn tinh, chuyên v quyn chức, quan lộc, ngoài ra nếu hội cung Thiên Phủ thì còn mang thêm ý nghĩa v Tài tinh. V tính chất, Thiên Tướng là Quyn lệnh, Uy dũng, Phú quý, Thanh sắc, Tài phú.
Con ngưi Thiên Tướng đim tĩnh, “Kiến nhân nan, hữu trắc ẩn chi tâm; Kiến nhân ác, bão bất bình chi khí (thấy ngưi khó thì động lòng trắc ẩn, thấy ngưi ác thì nổi sự bất bình). Khí chất thanh cao, con ngưi quảng bác, ưa thanh sắc b ngoài. Nếu gặp ào Hồng – Nữ nhân thì nhan sắc sáng ngi, Nam nhân thì dung nhan tú mỹ. Nhưng nếu hội cùng bn dâm tinh, Cái ào Riêu Khúc Mộc, ắt dâm phong thuần tược, ăn chơi sa đa một đi.
Thiên Tướng hợp với các bộ sao tá tinh cấp dưới như Tả Hữu, Tướng Ấn, Phụ Cáo. Cực tốt nếu hội được văn tinh và quý tinh như Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyn Lộc. Nhưng nếu hội văn tinh mà thiếu quyn tinh thì dễ sa đà. Thiên Tướng muốn thành nghiệp hơn đi phải cần có Tả Hữu, Binh Hình Tướng Ấn, Tứ Linh hội hợp, thì công danh phú quý không thể nói hết.
Thiên Tướng là Quyn Lệnh tinh nên nó có khả năng khắc chế, giải trừ được các sao hung sát tinh như Không Kiếp Kình à, nhưng khí đó Thiên tướng sẽ bị hao tổn nguyên thần mà ảnh hưởng đến số mệnh, cuộc đi thêm nhc nhằn, bôn ba. Nếu hung sát tinh quá nhiu, hội đủ bộ thì “mãnh hổ nan địch quần hổ, sẽ gây nguy hiểm cho Thiên tướng, không nhưng mất hết tốt đẹp mà còn gây nhiu tai ha.
Vì Thiên tướng là Tá Tinh, cho nên nó phò trợ rất tốt cho ế tinh, khi đóng tại Thìn Tuất, Thiên Tướng hộ giá cho Tử Vi, tăng thêm quyn lực. Nhưng vì lúc này Tử vi đã xa ri chính cung nên thiên v bôn ba, ly hương thoái tổ.
Khi Thiên tướng là Tài tinh, hội cùng Thiên Phủ thì Thiên Tướng sẽ hóa tài tinh do ảnh hưởng từ Tài khí của thiên Phủ mà làm nên phú quý. “Thiên Phủ, Thiên Tướng, nãi vi y lộc chi thần (Thiên Phủ, Thiên Tướng hội vào mệnh là cách Phủ Tướng triu viên nên trở thành Thần của Y Lộc).

Về Thiên Tướng, Tử Vi đẩu số toàn thư có viết :
“….Thiên tướng chúc thủy, nam đấu đệ ngũ tinh dã. Vi ti tước chi túc, vi phúc thiện, hóa khí viết ấn, thị vi quan lộc văn tinh, tá đế chi vị. Nhược nhân mệnh phùng chi, ngôn ngữ thành thật, sự bất hư ngụy. Kiến nhân nan, hữu trắc ẩn chi tâm; Kiến nhân ác, bão bất bình chi khí. Quan lộc đắc chi tắc hiển vinh, đế ta hợp chi tắc tranh quyn. Tá Nhật Nguyệt chi quang, kiêm hóa liêm trinh chi ác. Thân Mệnh đắc chi nhi vinh diệu; Tử tức đắc chi nhi tự tục xương, thập nhị cung trung giai vi tưng phúc, bất tùy ác nhi biến chí, bất nhân sát nhi cải di. Hạn bộ phùng chi, phú bất khả lượng. Thử tinh nhược lâm sinh vượng chi hương, tuy bất phùng đế ta, nhược đắc Tả Hữu, tắc chức chưởng uy quyn. Hoặc cư nhàn nhược chi địa, dã tác cát lợi, nhị hạn phùng chi chủ phú quý…
Tạm dịch: Thiên Tướng thuộc thủy, là ngôi thứ 5 của Nam ẩu hệ, là nơi coi sóc việc chức tước, là phúc thiện tinh, hóa khí là Ấn Tinh – là quan lộc văn tinh, phò tá cho ế tinh. Nếu nhân Mệnh gặp được thì là ngưi ngôn ngữ thành thật, không dối trá. Thấy ngưi khó thì động lòng trắc ẩn, thấy ngưi ác thì nổi sự bất bình. Quan lộc cung mà được thì dễ hiển vinh, đứng cùng ế tinh dễ tranh đoạt quyn hành. Giúp cho Nhật Nguyệt thêm sáng, gặp Liêm Trình thì thành ác. Nhập vào Thân Mệnh thì vinh hoa. Nhập vào Tử tức thì con cái tốt đẹp, 12 cung đu tốt cả. Không theo ác mà đổi chí, không sợ ác mà thay dạ. Hạn mà gặp thì phú quý không đo hết được. Sao này nếu vào đất Sinh Vượng, tuy chẳng gặp ế ta mà được gặp Tả Hữu thì vẫn có uy quyn chấp chưởng. Hoặc nếu cư vào nhàn địa, vẫn được tốt đẹp. Nhị hạn mà gặp chủ v phú quý.

Hi Di tổ sư viết v Thiên Tướng:
“….Thiên tướng Nam đấu ti tước chi tinh, hóa khí vi ấn. Chủ nhân y thực phong túc, xương khúc tả hữu tương hội, vị chí công khanh. Hãm địa tham liêm vũ phá dương đà sát thấu, xảo nghệ an thân. Ha linh trùng phá tàn tật, nữ nhân chủ thông minh đoan trang, chí quá trượng phu. Tam phương cát củng phong tặng luận, nhược xương khúc trùng phá thị thiếp, tại tăng đạo chủ thanh cao….
Tạm dịch : Thiên tướng là Nam đẩu tinh coi việc quyn chức, hóa khí là ấn tinh, chủ v ăn mặc phong túc (đầy đủ), hội cùng Xương Khúc Tả Hữu, là số công khanh. Hãm địa mà gặp Tham Liêm Vũ Phá Dương à sát tinh thì nh xảo nghệ (ngh khéo) mà được yên thân. Ngộ Ha Linh cung xâm phá thì dễ tàn tật. Nữ nhân có Tướng chủ thông minh, đoan trang, có chí khí như nam nhi. Ba phương mà có cát tinh củng chiếu dễ được phong tặng. Nếu bị Xương Khúc trùng phá thì dễ làm phận tỳ thiếp. Nếu là tăng đạo đi tu thì chủ v thanh cao…

Bài ca v Thiên Tướng trong ẩu số toàn thư như sau :
Thiên tương nguyên chúc thủy,
Hóa ấn chủ quan lộc,
Thân mệnh nhị cung phùng,
ịnh chủ đa tài phúc,
Hình thể hựu phì mãn,
Ngữ ngôn bất khinh độc,
Xuất sĩ chủ phi đằng,
Cư gia chủ tài cốc,
Nhị hạn nhược phùng chi,
Bách sự khán sung túc.

Tạm dịch :
Thiên tướng nguyên thuộc thủy, Hóa Ấn tinh, chủ v Quan lộc Thân mệnh hai cung mà gặp thì nhiu tài nhiu phúc, hình thể to lớn mập mạp, ngôn ngữ cẩn trng không khinh độc, nếu đi vào quan trưng dễ thành công lớn, nếu ở nhà thì cũng chủ tài cốc, nhiu lúa nhiu tin, ại tiểu hạn mà gặp, mi sự đu tốt đẹp, sung túc.
Còn trưng hợp Thiên Tướng gặp Tuần Triệt thì sao? Trong cổ thư không thấy nói đến trưng hợp Tướng ngộ Tuần Triệt. Nhưng lấy hình tượng mà suy thì khi gặp Tuần Triệt, là đất không vong, Thiên tướng không còn đất dụng võ, trở nên khốn quẫn, bí bách. Cuộc đi đương số khó thành đạt, công danh tài lộc đu bị ảnh hưởng. Nếu lại bị gặp bn Hung Sát tinh hội hợp thì chẳng khác nào tướng bị vây khốn, không những vất vả bôn ba lao toái, mà còn gây tai ha khôn lưng. Tượng của thiên tướng là ầu, Mặt, cho nên dễ mang thương tích. Gặp trưng hợp này, binh gia tối kị – dễ b thân nơi trận mạc. Nhưng cần xem xét kỹ, nếu chỉ lạc Không vong mà không bị Sát tinh xâm phá thì cũng không đến nỗi nào, cuộc đi tiên trở hậu thành, nghèo trước sướng sau, trưng hợp này rất cần tránh xa dâm tinh.

Luận v Thiên Tướng ngộ Tuần-Triệt: các sách Tử vi mới đu nói là “tướng cụt đầu hay “ấn tín bị sứt mẻ – mất hết uy quyn, lại dễ bị mắc tai nạn khủng khiếp, tàn tật, đầu-mặt mang thương tích… Nhưng thực tế chiêm nghiệm cho thấy điu này chưa hoàn toàn đúng. Ngộ Tuần Triệt nhưng cần phải xem xét 3 phương xem tốt xấu nặng nhẹ thế nào, các sao cứu giải ra sao, nhất là bộ Tử Vi – Vũ Phủ – Tả hữu, nếu sáng sủa tốt đẹp thì cũng chẳng đáng lo ngại, cuộc đi vẫn phong túc như thưng. Trong nhóm các Cát tinh, thì Thiên Tướng là sao rất tốt, vừa uy dũng, vừa tài phú. Con ngưi – Số mệnh đu tốt, chế hung giải nguy, cho nên cũng không mấy khi “đầu mình phân hai như một số nhận định.

SAO THẤT SÁT

0

Bàn chút về Thất sát :Có 2 thế đứng (cách) liên quan đến Thất Sát,
– Thất Sát triều Đẩu
– Thất Sát ngưỡng Đẩu

Như thế nào là Thất Sát triều đẩu? như thế nào là Thất Sát ngưỡng Đẩu?
Hai câu trên đều nói về Thất Sát, còn có tên khác là :
– Phủ Sát triều Đẩu
– Phủ Sát ngưỡng Đẩu

Vì Thất Sát luôn đối cung với Thiên Phủ, nên có thể dùng cả hai cách gọi trên đều đúng.
Cả hai cách đều dùng để chỉ Thất Sát khi đóng ở vị trí Tí-Ngọ. Chẳng qua nó chỉ là chuyện câu chữ thôi, vì trong Thiên Văn học, phương Bắc là phương vị của sao Bắc Cực, và ở Bắc phương có chòm sao Bắc Đẩu (gồm 7 ngôi), mà người ta thường gọi nó là ĐẨU, ĐẨU tức là chòm sao Bắc Đẩu, hoặc bóng gió thì dùng để chỉ phương Bắc, vì trung thiên Bắc cực là nơi Tử vi cung đóng ở đó.

Chữ NGƯỠNG tức là ngửa mặt lên để xem xét, nhìn ngắm. Cho nên cách THẤT SÁT NGƯỠNG ĐẨU là thường dùng khi thất sát đứng ở phương Nam (cung Ly) mà nhìn về phương Bắc, tức là đứng tại Ngọ, nhìn về Tí.

Còn chữ TRIỀU tức là tập trung vào, chầu vào, trong Tử vi chữ Triều được dùng trong trường hợp có 1 sao hoặc 1 nhóm sao hội hợp trong tam phương tứ chính, thì được gọi là Triều. Vì thế, trường hợp Thất Sát đóng tại chính BẮC CUNG thì được gọi là THẤT SÁT TRIỀU ĐẨU. Chính là trường hợp Thất sát cư Tí.

Luận tử vi, quan trọng nhất là cái sự Miếu hãm, còn vì sao là miếu, vì sao là hãm thì vẫn còn trong vòng bí ẩn. Đối với Thất Sát, Miếu ở Dần Thân Tí Ngọ, cổ nhân dựa trên tiêu chí này để đánh giá cát hung cho Thất Sát.

Trong các quan điểm về Thất Sát, cụ Vũ Tài Lục có xu hướng thiên về luận Ngũ Hành sinh khắc, vốn dĩ là căn bản của môn Tử Bình. Do vậy mới suy ra như thế. Các danh sư đời trước không viết như vậy. Theo sự giải thích của cổ thư, Chữ TRIỀU đã nói là hội hợp trong TAM PHƯƠNG TƯ CHÍNH. Tức là bao gồm cả Dần Thân, tuy nhiên Thất Sát Dần Thân được coi là Bàng cách, cư Tí là chính cách.

Trong các câu phú về Thất sát có nói :

Thất sát triều đẩu, nhập Tướng ư phủ môn – Nhập cách thất sát triều đẩu có thể làm Tướng trong phủ.Kể cũng là tốt, bởi Thất Sát là lệnh tinh, nhập tướng là đỉnh cao rồi. Vả lại, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào trợ tinh, tá tinh nữa. Trong Đẩu Số Toàn thư viết :

Thất sát Dần Thân Tí Ngọ cung
Tứ di củng thủ phục anh hùng
Khôi Việt Tả Hữu Văn xương hội
Quyền lộc danh cao, thực vạn chung

(Thất sát cư cung Dần – Thân – Tí – Ngọ thì bốn phương đều chắp tay phục là kẻ anh hùng, nếu được Khôi Việt Tả Hữu Văn xương hội hợp, ắt sẽ là kẻ quyền cao chức trọng, giầu có vạn chung)

Như vậy, cổ nhân không cho rằng Thất Sát cư Tí là xấu. Nếu xét trong Ngũ hành, thì khó lý giải, bởi lẽ Thất sát hành Kim (chứ không phải Hỏa Kim như cụ Vũ Tài Lục nói), cư cung Tí thuộc thủy, vẫn là sinh xuất, có hao tổn nhưng không thể gọi là xấu. Trường hợp tại Dần thuộc Mộc => Sao khắc cung, Thất Sát cũng không bị tổn thương, chỉ gây khó nhọc. Thất sát cư cung Thân, thuộc Kim => bình hòa, cũng không bị tổn thương. Do vậy, cái lý thuyết Miếu hãm, không thể trộn với lý thuyết Sinh Khắc của Ngũ hành được. Việc Ngũ hành chế hóa, là trên phương diện khác, trên diễn đàn tôi đã có viết, tìm đọc thêm sẽ rõ.

SAO PHÁ QUÂN

0

BÀN VỀ PHÁ QUÂN:
Phá quân, là ngôi sao thứ 7 trong chòm Bắc Đẩu, nó là 1 trong Bắc đẩu thất tinh, chính là ngội vị chót cùng của chòm sao Cán gáo (đại hùng tinh). Người xưa quan sát thiên văn, lấy nó định ra 4 mùa xuân hạ thu đông. Phá Quân, tên trong Thiên Văn Học Cổ gọi là Dao Quang (hay Diêu Quang), còn ở Tử vi nó mang tên là Phá Quân, với ý nghĩa, Phá = Phá phách, Quân = Trại lính. Xưa nay người ta vẫn nhầm chữ QUÂN là VUA cho nên mới nói rằng nó ĐỐI NGHỊCH với TỬ VI. Nhưng thực tế thì không hẳn như thế. Tìm trong các tài liệu cổ, thấy viết về Phá Quân khá ít, mà quan điểm cũng không thống nhất. Có lẽ vì Phá Quân vốn là một ngôi sao cơ biến, tính động khá lớn, cho nên thuộc tính khó xác định, biến chuyển mạnh mẽ. Vì vậy mà làm cho các học giả xưa nay thường không thống nhất ý kiến được.

Trong Đẩu Số Toàn Thư viết về Phá Quân :
“….Phá Quân thuộc thủy, Bắc Đẩu đệ thất tinh dã, ti phu thê, tử tức, nô bộc chi thần. Cư Tí Ngọ nhập miếu, tại thiên vi sát khí, tại số vi hao tinh, cố hóa khí viết hao. Chủ nhân bạo hung giảo trá, kì tính gian hoạt, dữ nhân quả hợp, động triếp tổn nhân. Bất thành nhân chi thiện, thiện trợ nhân chi ác. Ngược thị lục thân như khấu thù, xử cốt nhục vô nhân nghĩa, duy Lục Quý Lục Giáp sinh nhân hợp cách chủ phú quý. Hãm địa gia sát xung phá, xảo nghệ tàn tật, bất thủ tổ nghiệp, tăng đạo nghi chi. Nữ nhân xung phá dâm đãng vô sỉ. Thử tinh cư Tử Vi tắc thất uy quyền; phùng Thiên Phủ tắc tác gian ngụy; hội Tử Tham tắc thử thiết cẩu đạo. Dữ Liêm Trinh, Hỏa, Linh đồng độ tắc quyết khởi quan phi; dữ Cự Môn đồng độ tắc khẩu thiệt tranh đấu; Dữ Hình, Kị đồng độ, tắc chung thân tàn tật. Dữ Vũ Khúc nhập tài vị, tắc đông khuynh tây bại; dữ văn tinh thủ mệnh nhất sinh bần sĩ. Ngộ chư hung kết đảng phá bại, ngộ hãm địa kì họa bất khinh. Duy Thiên Lương khả chế kì ác, Thiên Lộc khả giải kì cuồng. Nhược phùng lưu sát giao tinh, gia nghiệp đãng không. Dữ Văn Khúc nhập ư thủy vực, tàn tật, li hương. Ngộ Văn Xương vu Chấn cung, ngộ cát khả quý. Nhược nữ mệnh phùng chi, vô môi tự giá, táng tiết phiêu lưu. Phàm tọa nhân thân mệnh cư Tí Ngọ, Tham Lang Thất Sát tương củng tắc uy chấn Hoa Di. Hoặc dữ Vũ Khúc đồng cư Tỵ cung, Tham Lang củng diệc cư đài các. Đãn khán ác tinh hà như? Giáp Quý sinh nhân nhập cách, đáo lão diệc bất toàn mĩ dã. Tại thân mệnh hãm địa, khí tổ li tông; Tại huynh đệ cốt nhục tham thương; Tại phu thê bất chính, chủ hôn nhân tiến thoái; Tại tử tức tiên tổn hậu thành; Tại tài bạch như thang kiêu tuyết; Tại tật ách trí uông doanh chi tật; Tại thiên di bôn tẩu vô lực; Tại nô bộc báng oán đào tẩu; Tại quan lộc chủ thanh bần; Tại điền trạch hãm độ, tổ cơ phá đãng; Tại phúc đức đa tai; Tại phụ mẫu phá tương hình khắc….”

Tạm dịch:
“…Phá quân thuộc Thủy, là sao thứ 7 trong Bắc Đẩu thất tinh. Là thần cai quản việc Phu Thê, Nô Bộc và Tử tức. Cứ Tí-Ngọ là nhập miếu. Ở trên trời là sát khí, vào số mệnh là HAO TINH. Cho nên nói rằng Hóa khí của nó là HAO. Chủ về người hung bạo xảo trá, tính tình gian hoạt khó lường, không hợp với người. Hành động thường làm tổn hại tới người khác. Không làm điều thiện với người, mà lại trợ giúp kẻ ác. Ngang ngược, coi lục thân như kẻ thù, đối xử với cốt nhục vô nhân nghĩa. Chỉ có người sinh Lục Quý-Lục Giáp thì hợp cách chủ về phú quý. Nếu hãm địa, gia thêm sát tinh mà lại trùng Phá (phá toái), thì là người có nghề nghiệp khéo (xảo nghệ), nhưng mà phải chịu tàn tật, không giữ được tổ nghiệp, nên làm tăng đạo. Nữ nhân gặp Phá, dâm đãng vô sỉ. Sao này mà cư đồng cung với Tử vi thì mất hết uy quyền, gặp Thiên Phủ thì dễ trở thành gian ngụy. Hội với Tử Tham thì là phường trộm cắp tham lận. Với Liêm trinh Hỏa linh đồng độ thì chắc chắn gặp chuyện quan tụng thị phi. Với Cự môn đồng độ thì khẩu thiệt tranh đấu. Với Hình Kị đồng độ, thì chung thân tàn tật. Với Vũ khúc nhập cung tài thì ắt “Đông thành, tây bại”. Với Văn tinh thủ mệnh thì một đời bần sĩ. Gặp đám hung tinh kết đàng phá bại, gặp hãm địa thì họa không phải là nhẹ. Chỉ có Thiên lương mới chế được tính ác, Thiên lộc (Lộc tồn) mới giải được tính cuồng của Phá. Nếu gặp “lưu sát giao tinh” nghiệp nhà ắt hỏng. Cùng Văn Khúc nhập Thủy cung thì dễ tàn tật ly hương. Ngộ Văn Xương tại Chấn cung, mà lại gặp được cát tinh thì có thế thành Quý. Nữ mệnh gặp cách này, lấy chồng không cần mai mối, táng tiết phiêu lưu. Phàm là người mệnh cư Tí Ngọ Phá tọa thủ, Tham lang Thất sát tương củng (chiếu) ắt là uy chấn bốn phương. Hoặc nếu với VŨ KHÚC đồng cư Tỵ cung thì sẽ có Tham lang củng chiếu, cũng là quý hiển đài các. Đối với ác tinh xem như thế nào? Người sinh tuổi GIÁP QUÝ nhập cách, về già không được toàn mỹ. Tại Thân Mệnh mà hãm địa, ly tổ ly tông, tại Huynh đệ, cốt nhục tương tàn. Tại Phu thê, vợ chồng bất chính, chủ về hôn nhân tiến thoái. Tại Tử tức, trước tổn sau thành. Tại Tài bạch, như nước nóng đổ xuống tuyết. Tại tật ách, chú về tai nạn lớn. Tại Thiên di bôn tẩu nhọc nhằn. Tại Nô bộc, thì bị phản. Tại Quan lộc, chủ thanh bần. Tại Điền trạch mà lại hãm, phá đãng tổ nghiệp. Tại Phúc đức, nhiều tai kiếp. Tại phụ mẫu, khắc cha mẹ…”

Đọc đoạn trên, chúng ta thấy rằng cổ nhân nhìn nhận Phá quân có lẽ hơi có phần khắt khe quá! Bởi thực tế cũng còn phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì thế, nhìn nhận một cách công bằng, thì Phá Quân là một Đại Hung tinh, tính của nó là HAO, chuyên coi việc NÔ BỘC, TỬ TỨC, và PHU THÊ. Bởi vậy, nếu nhập vào số mệnh con người thì thường liên quan đến vấn đề trên để mà luận đoán cát hung. Dù cho có đặc biệt đến đâu, nhưng cũng không ngoài cái quy luật miếu hãm, suy vượng. Phá miếu ở Tí Ngọ, vượng ở Sửu Mùi, đắc ở Thìn Tuất và hãm ở Dần Thân Tỵ Hợi Mão Dậu. Luận về Phá Quân, thì trước hết vẫn phải tuân theo quy luật của Hung tinh. Đắc địa thì tốt, mà hãm địa thì xấu, cái sự Miếu-Hãm là việc đầu tiên cần quan tâm

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

MẠN ĐÀM VỀ SAO PHÁ QUÂN

0

MẠN ĐÀM VỀ SAO PHÁ QUÂN:
Không ngờ cái lá số PHÁ QUÂN của ta lại được anh hùng bốn phương chiếu cố. Bàn bạc mãi, rồi cuối cùng cũng vẫn chỉ là hai chữ NAN MINH!

Thế mới biết thế nào là “Phá Quân nhất diệu tính nan minh”Đã biết nó là như thế , sao còn cố tìm cái sự MINH BẠCH ở trong cái NAN MINH nhỉ ? như thế có phải là nhọc công lắm sao?…

Tạm bàn về cái câu “Phá Quân nhất diệu tính nan minh”.

Có lẽ đối với Phá Quân, thì câu này đã gần như trở thành chân lý, trở thành câu cửa miệng mỗi khi nhắc đến Phá Quân. Thế rồi sách vở đua nhau phân tích, lý giải, trăm hoa đua nở, mỗi người một ý, rồi suy diễn, gán ghép đủ đường…nhiều quá thành ra..loạn, mà không biết rằng câu phú ấy ở đâu, gốc gác như thế nào?

Xin thưa, câu phú “Phá Quân nhất diệu tính nan minh” là câu phú nằm trong Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú, cố nhân dùng nó để luận số nữ nhân! Chép nguyên cả cái đoạn ấy lên đây, nó như thế này này…:

Cự môn Thiên cơ vi phá đãng.
Thiên lương Nguyệt diệu nữ dâm bần.

Kình dương Hỏa tinh vi hạ tiện.
Văn xương Văn khúc phúc bất toàn.

Vũ khúc chi tinh vi quả tú.
Phá quân nhất diệu tính nan minh.

Tham lang nội ngoan đa dâm dật.
Thất sát trầm ngâm phúc bất vinh.

Hazzz…đối với Nữ Mệnh, cổ nhân đã nói rằng : Vũ Khúc chi tinh vi quả tú, Phá Quân nhất diệu tính nan minh. Vũ Khúc là sao Quả Tú chủ về cô đơn hình khắc, nhập nữ mệnh là tối kị – Phá Quân đơn thủ (nhất diệu) thì tính tình không minh bạch, gian hoạt khó lường. Chỉ có thế thôi, chứ chẳng có gì to tát đến nỗi phải gán tuốt tuồn tuột mọi thứ vào nó. Riêng về hai chữ NAN MINH, có hai nghĩa hiểu, nếu như nói về CON NGƯỜI PHÁ QUÂN thì chữ Nan Minh chỉ nghĩa là KHÔNG SÁNG SUỐT, KHÔNG MINH BẠCH. Còn nếu nói về SAO PHÁ QUÂN thì chỉ về nghĩa là KHÓ HIỂU.
Và nếu nói như một số quan điểm, một số sách cho rằng Phá Quân hay thay đổi vì nhị hợp với Thiên Cơ, cô đơn vì Cự Môn nhập Nô cung v.v… thì chưa hẳn đúng. Phân tích luận giải Thập Nhị Huyền Đồ không phải như thế! điều ấy chưa thể lý giải được về cái tình lý của Phá Quân.

Còn đối với Phá Quân, các quan điểm về sau này nhìn nhận có phần khiên cưỡng, mà lại khắt khe quá, rồi sau những phân tích – lý giải – suy diễn – gán ghép … Phá Quân trở thành một ông…tướng cướp chính hiệu!

Ta lần theo dấu chân cổ nhân ngày trước để tìm lại hình bóng Phá Quân, xem các bậc tiên hiền nhìn nhận Phá quân như thế nào?

Trong đẩu số toàn thư viết :

亥水屬文曲破軍之要地,乃文明清高之� ��,萬里派源之潔,如大川之澤不為焦枯. 居於亥位將入天河,是故為妙.破軍水 於子旺之鄉,如巨海之浪淜洶湧,可遠觀 而不可近倚,破軍是以居焉,若四墓之剋 ,充其瀰漫,必得武曲之金使其源流不絕 方為妙矣.

(Hợi thủy chúc văn khúc phá quân chi yếu địa, nãi văn minh thanh cao chi sĩ, vạn lí phái nguyên chi khiết, như đại xuyên chi trạch bất vi tiêu khô. Cư vu hợi vị tương nhập thiên hà, thị cố vi diệu. Phá quân thủy vu tử vượng chi hương, như cự hải chi lãng hung dũng, khả viễn quan nhi bất khả cận ỷ, phá quân thị dĩ cư yên, nhược tứ mộ chi khắc, sung kì di mạn, tất đắc vũ khúc chi kim sử kì nguyên lưu bất tuyệt phương vi diệu hĩ.)

Tạm Dịch : Cung Hợi thủy là đất yếu địa của Văn Khúc – Phá Quân, người văn minh, thanh cao chi sĩ, như suối nguồn thanh khiết chảy muôn dòng, như đầm rộng sông dài chẳng bao giờ khô cạn, Cư tại Hợi là nhập Thiên Hà, thực là huyền diệu thay! Phá Quân thuộc thủy, cung Tí là đất vượng, thì ào ào như sóng trên biển lớn, chỉ có thế đứng xa mà nhìn chứ chẳng thể cận kề. Phá Quân muốn yên, chỉ có Tứ Mộ khắc chế, (khi ấy) sung mãn tràn bờ (thủy của Phá), tất sẽ được Vũ Khúc (là Kim) sử dụng là làm thành nguồn chảy bất tuyệt khắp nơi rất là vi diệu!

Ví dụ một chút thế thôi, còn các cung khác, Phá Quân cũng có những bộ mặt riêng, nhưng nói chung thì cũng không có gì…NAN MINH, bởi nó cũng vẫn chỉ nằm trong cái vòng Miếu Hãm Sinh Hóa của trời đất vạn vật.

Còn đây là lời Phê lá số của tiền nhân về lá số Phá Quân (trích dẫn).

破軍入廟勢汪洋,專權掌握振八方,七殺 稜稜司正令,貪狼照合得相幫,分明有倚 無偏黨,文武林能佐廟廊,制服擎羊還有 氣,凜凜威風孰 敢當………

(Phá quân nhập miếu thế uông dương, chuyên quyền chưởng ác chấn bát phương, thất sát lăng lăng ti chánh lệnh, tham lang chiếu hợp đắc tương bang, phân minh hữu ỷ vô thiên đảng, văn vũ lâm năng tá miếu lang, chế phục kình dương hoàn hữu khí, lẫm lẫm uy phong thục cảm đương, ……)

Tạm dịch : Phá Quân nhập miếu thế như biển lớn, một tay chuyên quyền chấn bát phương, Có Thất Sát bên cạnh thi hành chính lệnh, có tham lang chiếu hợp tương trợ, Rõ ràng có thể dựa vào bè đảng, có Văn-Vũ trợ giúp dưới trướng, có khả năng chế phục Kinh Dương làm vũ khí. Lẫm liệt uy phong, là người xông pha gánh vác….

Đoạn kết cùa Phá Quân như thế này :

…..赫赫聲名振朔方,仕路悠悠八卦外,� ��名衣錦得還鄉,六旬幾歲將傷壽,花落� ��聲滿地香,雲暗鼎壺猶去遠,月明華表� ��歸忙.

(..hách hách thanh danh chấn sóc phương, sĩ lộ du du bát quái ngoại, công danh y cẩm đắc hoàn hương, lục tuần ki tuế tương thương thọ, hoa lạc vô thanh mãn địa hương, vân ám đỉnh hồ do khứ viễn, nguyệt minh hoa biểu hạc quy mang..)

Tạm dịch : Hiển hách thanh danh chấn một trời phương Bắc, đường quan nghiệp phiêu du không định (bát quái ngoại = nằm ngoài quy luật), Công danh thì Áo gấm về làng (y cầm hoàn hương), ngoài Lục Tuần thời thọ thương (bệnh), ra đi nhẹ nhàng như hoa rơi xuống đất không có tiếng động, trăng sáng, hoa nở, hạc rùa về đón người chơi xa…

Xem ra, đọc cái đoạn kết của Phá Quân, tự nhiên thấy lòng man mác… Đành rằng “Tử Sinh tạo hóa quyền”, nhưng ngẫm lại, Phá Quân “đội trời đạp đất” tung hoành khắp bốn phương, nhưng rồi “ thương tình lệ mãn quan sơn lệ” chỉ vì cái tính “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” mà cuối cùng đến khi về già cũng chỉ được“Công danh Y cẩm đắc hoàn hương”. Cho đến tận lúc “cưỡi hạc chơi tiên” cũng vẫn là..Phá Quân, cũng vẫn cứ phải chọn cái thời khắc “nguyệt minh hoa biểu”….

SAO THIÊN ĐỒNG – Phần 1

0

THIÊN ĐỒNG LUẬN
PHẦN 1: Thiên Đồng thuyết.

Thiên Đồng, ngôi sao trong Tử vi hệ đóng ở vị trí thứ 4 sau sao Tử vi, thuộc về Nam Đẩu tinh. Trong Tử vi, Thiên Đồng được coi là Phúc tinh. Trên trời là thần cai quản cung Phúc Đức, chủ về việc tế tự. Nhập mệnh Hóa khí là Phúc tinh.

Thiên Đồng thuộc Thủy, Miếu địa tại Dần – Thân, vượng địa tại Tí, đắc địa tại Mão-Tỵ-Hợi, hãm địa tại Ngọ-Dậu-Thìn-Tuất-Sửu-Mùi. Tại Dần–Thân thì đồng cung với Thiên Lương, Tại Tí-Ngọ thì đồng cung với Thái Âm, Tại Sửu–Mùi thì đồng cung với Cự Môn.

Đối với Cổ nhân nhìn nhận về sao Thiên Đồng cho rằng : Thiên Đồng – Thập nhị cung trung giai viết phúc.Tức là trong cả 12 cung, Thiên Đồng cư cung nào cũng giáng Phúc cho cung đó. Thiên Đồng nhập mệnh là người Thông minh, có tính thiện, bẩm tính ôn lương khoan hòa nhân hậu. Nếu nhập miếu thì Phú Quý Phúc Thọ toàn vẹn, nhược bằng hãm địa thì phiêu dạt, thoái tổ ly tông.

Vì Thiên Đồng là Phúc Thần, chủ quản việc tế tự, nên người Thiên Đồng thường ưa các việc tâm linh, chùa chiền lễ bái. Vì là Phúc Thần nên Thiên Đồng rất có lợi trong việc sinh sản, hôn nhân. Hạn đến Thiên Đồng khả dĩ có thể thêm nhân khẩu trong nhà.

Về hình dáng :
Người Thiên Đồng thường đầy đặn, nét mặt sáng sủa, da trắng. Hình tính phú viết về Thiên Đồng : Thiên đồng phì mãn, mục tú thanh kì”. (Người thiên đồng thì béo đầy, vẻ mặt thanh kỳ, mắt đẹp). Nhưng đấy là Thiên Đồng nhập Miếu. Còn nếu Hãm, hoặc gia ngộ Sát tinh Hình Kị thì thường có vết trên cơ thể, tuy da trắng nhưng không phì mãn, đặc biệt, mắt thường có điểm dị biệt. Phú nói “Thiên Đồng như Đà Kị phì mãn nhi mục miểu” (Thiên đồng giống như Đà Kị, béo đầy nhưng mắt thường có vẻ man mác buồn, hoặc có điểm khác lạ).
Trong Đẩu Số Tân Biên, Thái Thứ Lang viết “thân hình nở nang, hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông vắn đầy đặn”.

Với Nữ nhân, Thiên Đồng đắc địa nếu được hội cũng Quý Tinh, Xương Khúc, Khôi Việt thì Dung nhan mỹ ái. Phú nói “Phúc diệu phùng Việt Diệu, định thị hải hà dục tú” (Thiên Đồng mà gặp Thiên Việt, hẳn là người đẹp đẽ khoáng đạt như sống dài biển rộng)

Về tính tình :
Người Thiên Đồng thì Nhân hậu, từ thiện, thích làm việc thiện, ưa điều thiện. Thích các việc tâm linh, chùa chiền, lễ bái. Câu phú nối tiếng nói về tính tình của Thiên Đồng là Thiên Đồng hoán cải vô thường” (thiên đồng nhập mệnh, là người thay đổi không ổn định). Do vậy mà Thái Thứ Lang mới viết “Canh cải thất thường” “không bền chí, hay thay đổi ý kiến, công việc”.

Thiên Đồng là Phúc tinh, đương nhiên là mang tính thiện. Người Thiên Đồng sống hòa đồng, có phần dễ dãi, không ưa tranh đấu cừu thù. Ghét thị phi miệng tiếng (trừ một vài trường hợp đặc biệt). Nếu Đồng miếu nhập mệnh thì bẩm tính ôn hòa lương thiện, đẹp lòng mọi người. Nếu hội được Văn Tinh, Quý tinh thì Văn mặc tinh thông, hiền lành mà ngay thẳng. Nếu hãm địa mà lại ngộ sát tinh hội hợp thì là người ba phải, không có chính kiến. Thích phiêu lưu thay đổi. Điểm đặc tính chung của Thiên Đồng là khả năng dục tính mạnh, cả Nam lẫn nữ. Nếu hãm địa, gia sát, Nam Nữ thường dâm bôn.

Cổ nhân luận về sao Thiên Đồng
La Hồng Tiên tiến sĩ viết:
“Thiên đồng tinh chúc thủy, nãi nam phương đệ tứ tinh dã, vi phúc đức cung chi chủ tể. Phục vân: hóa phúc tối hỉ ngộ cát diệu, trợ phúc thiêm tường, vi nhân liêm khiết, mạo bẩm thanh kì. Hữu ki xu vô kháng kích, bất phạ thất sát tương xâm, bất phạ chư sát đồng triền. Hạn nhược phùng chi, nhất sanh đắc địa, thập nhị cung trung giai viết phúc, vô phá định vi tường”

Tạm dịch: Thiên Đồng thuộc thủy, là ngôi thứ 4 trong chòm Nam Đẩu, là chủ tể cung Phúc Đức. Lại nói rằng: Hóa Phúc (Thiên Đồng) tối hỉ nếu gặp được cát diệu, trợ phúc thêm điều lành. Là người liêm khiết, dung mạo vốn dĩ đẹp đẽ. Gặp cơ hội cũng không tranh giành vội vã. Chẳng sợ Thất Sát xâm hại, chẳng sợ các sát tinh khác vây bọc. Hạn nếu gặp được (thiên đồng), là được đắc địa, mười hai cung đều nói rằng được ban phúc. Nếu không bị phá, nhất định là điềm tốt.

Hi Di tổ sư viết:
“Thiên đồng nam đấu ích toán bảo sanh chi tinh, hóa lộc vi thiện, phùng cát vi tường, thân mệnh trị chi, chủ vi nhân khiêm tốn, bẩm tính ôn hòa. Tất từ ngạnh trực, văn mặc tinh thông, hữu kì chí vô hung kích. Bất kị thất sát tương xâm, bất úy chư hung đồng độ, thập nhị cung trung giai vi phúc luận. Ngộ tả hữu xương lương quý hiển, hỉ nhâm ất bính sanh nhân, Tỵ hợi hãm địa. Bất nghi lục canh sanh nhân cư dậu địa, chung thân bất thủ. Hội tứ sát cư Tỵ hợi vi hãm, tàn tật cô khắc. Nữ nhân phùng sát trùng phá, hình phu khắc tử. Lương Nguyệt trùng phá, hợp tác thiên phòng, tăng đạo nghi chi, chủ hưởng phúc”

Tạm dịch: Thiên Đồng thuộc Nam Đẩu tinh, lợi ích cho việc sinh lời, bảo trợ cho sinh sản. Hóa khí là Thiện Tinh, gặp được cát tinh thì tốt, nếu nhập vào Thân Mệnh, chủ về người khiêm tốn, bẩm tính ôn hòa, hiền mà ngay thẳng, văn mặc (học vấn, văn chương) tinh thông, gặp cơ hội cũng không vội vã. Không sợ Thất sát xâm hại, chẳng sợ hung tinh vây khốn. Mười hai cung đều luận là tốt. Gặp Tả Hữu Xương Lương thì quý hiển, rất tốt đối với người tuổi Nhâm, tuổi Bính. Đắc địa tại Tỵ Hợi, không nên gặp ở người tuổi Canh mà lại cư Dậu, nếu gặp như thế thì Chung thân bất thủ (không giữ được tiết nghĩa). Nếu hội cung Tứ Sát mà đóng ở Tỵ Hợi là xấu, ắt tàn tật cô khắc. Nếu Nữ nhân có Thiên Đồng mà gặp Sát tinh, trùng phùng với Phá, ắt hình phu khắc tử. Nếu Lương Nguyệt trùng Phá, dễ làm lẽ mọn, nên làm tăng đạo, thì được hưởng phúc.
Vân Đằng Thái Thứ Lang viết:

“……
− Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa là người thông minh, có tính khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, nhưng không quả quyết, không bền chí, hay thay đổi ý kiến, công việc. Tuy vậy, vẫn được hưởng giàu sang và phúc thọ song toàn.
− Đồng Đắc địa tại Tỵ, Hợi, lại là người thích phiêu lưu, nay đây mai đó, và hay thay đổi chỗ ở.
− Đồng Đắc địa tại Tỵ, Hợi, khắc tuổi Đinh, Canh, vậy cho nên tuổi Đinh, Canh mà cung Mệnh an tại Tỵ, Hợi, có Đồng tọa thủ, tất suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng.
− Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, chắc chắn là được hưởng phú quí đến tột bực và có uy danh lừng lẫy.
− Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Hình tuy suốt đời vẫn được no cơm ấm áo, nhưng lao tâm khổ tứ, sức khỏe lại suy kém, thường có bệnh tật hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa.
− Đồng Hãm địa là người kém thông minh và nông nổi, cũng có tính nhân hậu, nhưng thay đổi thất thường, không quả quyết, không có định kiến, làm việc gì rồi cũng chóng chán, lại thích chơi bời ăn uống, tuy sống lâu nhưng rất vất vả, thường phải ly tổ bôn ba, luôn luôn lo lắng vì sinh kế, lại hay mắc tiếng thị phi. Cung Mệnh có Đồng Hãm địa tọa thủ, nên đi buôn.
− Đồng Hãm địa, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại là người hay nói khoác lác và không cẩn ngôn.
− Đồng Hãm địa Ngọ, là người có óc kinh doanh.
− Đồng Hãm địa Tuất, Ngọ ứng hợp với tuổi Đinh. Vậy cho nên tuổi Đinh mà cung Mệnh an tại Tuất, Ngọ có Đồng tọa thủ, tất nhiên là khá giả.
− Đồng Hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa hội hợp, nhất là Xương Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc phải đoán là cũng có công danh và tiền tài.
− Đồng Hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kị, Hình. Thật là suốt đời lao khổ phải lang thang phiêu bạt, thường có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, lại hay mắc tai nạn và không thể sống lâu được.

NAM MỆNH:
Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú quí đến tột bậc, có uy danh lừng lẫy. Phúc thọ song toàn.
− Đồng Hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là suốt đời lao khổ, phải lang thang phiêu bạt, thường có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, lại hay mắc tai nạn và không thể sống lâu được.

NỮ MỆNH:
− Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa, Mão thủ Mệnh, là người đảm đang, có đức độ, rất vượng phu ích tử.
− Đồng Đắc địa, Tỵ, Hợi, là người đảm đang, nhưng đa dâm, thường phải sớm ly tổ.
− Đồng Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa, tất được hưởng giàu sang và sống lâu. Đây nếu Đồng gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, chắc chắn là được hưởng phú quí đến tột bực, và phúc thọ song toàn.
− Đồng Đắc địa, Tỵ, Hợi, hay Hãm địa, phải muộn lập gia đình hay lấy kế lấy lẽ, mới tránh buồn thương.
− Đồng Hãm địa là người hoang đãng dâm dật, tuy được no cơm ấm áo và sống lâu, nhưng suốt đời vất vả, thường phải sớm ly tổ, bôn ba, nay đây mai đó. Đây, nếu Đồng gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, khắc chồng hại con, phải lang thang phiêu bạt, lại có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở tử cung và hay mắc tai nạn: tuổi thọ cũng bị chiết giảm. …………”

SAO THIÊN ĐỒNG – Phần 2

0

PHẦN 2 : Thiên Đồng Phụ Luận
Như trên đã nói về các điều khái quát của Thiên Đồng. Cổ nhân cho rằng, Thiên Đồng là một Phúc Tinh, không sợ Hung Tinh Thất Sát, chẳng sợ các hung tinh khác vây bọc. Lại cho rằng trên cả 12 cung, cung nào cũng ban phúc.

Xin Phụ luận về mấy luận điểm trên đây:

Thứ nhất : Số Mệnh người Thiên Đồng như thế nào?

Thiên Đồng nhập mệnh, vốn dĩ là Phúc Thiện Tinh, hợp với nhóm văn tinh, quý tinh, cho nên nếu đắc cách hội được Tả Hữu, Xương Khúc thì văn mặc tinh thông, kiến văn quảng bác, cổ nhân nói rằng “Thiên Đồng dữ Xương Khúc tụ củng – Chủ hoa vinh” – Một đời quý hiển nhàn nhã. Nếu hội được thêm Khoa Quyền Lộc Quý, thì Phú Quý toàn vẹn ít ai bằng. Phú viết rằng “Thiên Đồng hội cát thọ nguyên thời”, nếu Thiên Đồng tránh xa được sát tinh, dâm tinh. Hội cát tinh thì tuổi thọ, phúc ấm cao dày.

Nhược bằng hãm địa, thì phiêu dạt, thoái tổ ly tông, Nếu hãm mà gặp sát tinh, ắt tàn tật, cô khắc hoặc mang bệnh nan y trong người. Nếu hãm mà gặp Dâm tinh thì hoang dâm vô độ, tuổi thọ chiết giảm. Phúc ấm suy đồi.
Thiên Đồng, với cổ nhân có 2 tính xấu :

+ Thứ nhất là cái sự hay thay đổi, không ổn định. Luận về Thiên Đồng, cổ nhân phê rằng :” Thiên Đồng nhập mệnh, hoán cải vô thường”. Tức là thay đổi không ổn định, không biết đâu mà lần.

+ Thứ hai là công danh, tài lộc thường chậm muộn. Cổ nhân phê rằng Thiên Đồng bạch thủ thành gia(Thiên đồng – tay trắng làm nên cơ nghiệp). hay cụ thể hơn “Thiên đồng bạch thủ sinh tài vãn phát”. (thiên đồng tay trắng làm ra tiền bạc, nhưng cuối đời mới phát).
Về đặc tính thứ nhất, cổ thư đều nói rằng thiên đồng canh cải thất thường”, cái sự biến đổi của Thiên Đồng không thể lường trước được. Nhưng không nên hiểu theo nghĩa hẹp là TÍNH NGƯỜI. Đúng là về TÍNH thì người Thiên Đồng cũng rất hay thay đổi, mục tiêu, chí hướng thường không rõ ràng. Dễ quên, dễ tha thứ, dễ bị người khác làm cho lung lạc. Còn trên phương diện tổng quát, cái sự “hoán cải vô thường” nó thể hiện cả trên số mệnh. Người Thiên Đồng thì công danh, việc làm, gia đình, chỗ ở đều có xu hướng không ổn định. Trong các thế đứng của Thiên Đồng, thì tại Tỵ Hợi, Thiên Đồng đối cung với Thiên Lương, tạo ra cách “Đồng Lương Tỵ Hợi”, theo cách này thì “Nam đa lãng đãng, nữ đa dâm”, Nam thì phiêu dạt giang hồ nơi chân trời góc bể, nữ thì dâm bôn. Cái câu “nam đa lãng đãng” chỉ rằng con người phiêu du, phiêu lãng không có gì ổn định. Đây cũng là một đặc tính xấu của Thiên đồng.

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC