28 C
Hanoi
Thứ Hai, 24 Tháng Sáu, 2024
spot_img
Trang chủ Blog Trang 4

Kham Dư Ngũ Kinh – Thanh Nang Tự

0

THANH NANG TỰ
曾求己著
Tằng Cầu Kỷ trứ

杨公养老看雌雄,天下诸书对不同。
Dương Công dưỡng lão khán thư hùng, thiên hạ chư thư đối bất đồng.
先看金龙动不动,次察血脉认来龙。
tiên khán kim long động bất động, thứ sát huyết mạch nhận lai long.

龙分两片阴阳取,水对三叉细认踪。
long phân lưỡng phiến âm dương thủ, thủy đối tam xoa tế nhận tung.
江南龙来江北望,江西龙去望江东。
Giang Nam long lai Giang Bắc vọng, Giang Tây long khứ vọng Giang Đông.

是以圣人卜河洛,瀍涧两水交华嵩。
thị dĩ thánh nhân bốc Hà Lạc, triền giản lưỡng thủy giao hoa tung.
相其阴阳观流泉,卜年卜世宅都宫。
tương kì âm dương quan lưu tuyền, bốc niên bốc thế trạch đô cung.

晋世景纯传此术,演经立义出玄空。
tấn thế cảnh thuần truyện thử thuật, diễn kinh lập nghĩa xuất huyền không.
朱雀发源生旺气,一一讲说开愚蒙。
chu tước phát nguyên sinh vượng khí, nhất nhất giảng thuyết khai ngu mông.

一生二兮二生三,三生万物是玄关。
nhất sinh nhị hề nhị sinh tam, tam sinh vạn vật thị huyền quan.
山管山兮水管水,此是阴阳不待言。
sơn quản sơn hề thủy quản thủy, thử thị âm dương bất đãi ngôn.

识得阴阳玄妙理,知其衰旺生与死。
thức đắc âm dương huyền diệu lý, tri kì suy vượng sinh dữ tử.
不问坐山与来水,但逢死气皆无取。
bất vấn tọa sơn dữ lai thủy, đãn phùng tử khí giai vô thủ.

先天罗经十二支,后天再用干与维。
tiên thiên la kinh thập nhị chi, hậu thiên tái dụng can dữ duy.
八干四维辅支位,子母公孙同此推。
bát can tứ duy phụ chi vị, tử mẫu công tôn đồng thử thôi.

二十四山分顺逆,共成四十有八局。
nhị thập tứ sơn phân thuận nghịch, cộng thành tứ thập hữu bát cục.
五行即在此中分,祖宗却从阴阳出。
ngũ hành tức tại thử trung phân, tổ tông tức tòng âm dương xuất.

阳从左边团团转,阴从右路转相通。
dương tòng tả biên đoàn đoàn chuyển, âm tòng hữu lộ chuyển tương thông.
有人识得阴阳者,何愁大地不相逢。
Hữu nhân thức đắc âm dương giả, hà sầu đại địa bất tương phùng.

阳山阳向水流阳,执定此说甚荒唐。
dương sơn dương hướng thủy lưu dương, chấp định thử thuyết thậm hoang đường.
阴山阴向水流阴,笑杀拘泥都一般。
âm sơn âm hướng thủy lưu âm, tiếu sát câu nệ đô nhất ban.

若能勘破个中理,妙用本来同一体。
nhược năng khám phá cá trung lý, diệu dụng bổn lai đồng nhất thể.
阴阳相见两为难,一山一水何足言。
âm dương tương kiến lưỡng vi nan, nhất sơn nhất thủy hà túc ngôn.

二十四山双双起,少有时师通此义。
nhị thập tứ sơn song song khởi, thiểu hữu thời sư thông thử nghĩa.
五行分布二十四,时师此诀何曾记。
ngũ hành phân bố nhị thập tứ, thời sư thử quyết hà tằng kí.

______

山上龙神不下水,水里龙神不上山。
sơn thượng long thần bất hạ thủy, thủy lí long thần bất thượng sơn.
用此量山与步水,百里江山一晌间。
dụng thử lượng sơn dữ bộ thủy, bách lí giang sơn nhất thưởng gian.

更有净阴净阳法,前后八尺不宜杂。
canh hữu tịnh âm tịnh dương pháp, tiền hậu bát xích bất nghi tạp.
斜正受来阴阳取,气乘生旺方无煞。
tà chính thụ lai âm dương thủ, khí thừa sinh vượng phương vô sát.

来山起顶须要知,三节四节不须拘。
lai sơn khởi đính tu yếu tri, tam tiết tứ tiết bất tu câu.
只要龙神得生旺,阴阳却与穴中殊。
chỉ yếu long thần đắc sinh vượng, âm dương tức dữ huyệt trung thù.

天上星辰似织罗,水交三八要相过。
thiên thượng tinh thần tự chức la, thủy giao tam bát yếu tương quá.
水发城门须要会,却如湖里雁交鹅。
thủy phát Thành Môn tu yếu hội, tức như hồ lí nhạn giao nga.

富贵贫贱在水神,水是山家血脉精。
phú quý bần tiện tại thủy thần, thủy thị sơn gia huyết mạch tinh.
山静水动昼夜定,水主财禄山人丁。
sơn tĩnh thủy động trú dạ định, thủy chủ tài lộc sơn nhân đinh.

乾坤艮巽号御街,四大尊神在内排。
Kiền Khôn Cấn Tốn hào ngự nhai, tứ đại tôn thần tại nội bài.
生克须凭五行布,要识天机玄妙处。
sinh khắc tu bằng ngũ hành bố, yếu thức thiên cơ huyền diệu xử.

乾坤艮巽水长流,吉神先入家豪富。
Kiền Khôn Cấn Tốn thủy trường lưu, cát thần tiên nhập gia hào phú.

____

请验一家旧日坟,十坟埋下九坟贫。
thỉnh nghiệm nhất gia cựu nhật phần, thập phần mai hạ cửu phần bần.
惟有一坟能发福,去水来山尽合情。
duy hữu nhất phần năng phát phúc, khứ thủy lai sơn tẫn hợp tình.

宗庙本是阴阳元,得四失六难为全。
tông miếu bổn thị âm dương nguyên, đắc tứ thất lục nan vi toàn.
三才六建虽为妙,得三失五尽为偏。
tam tài lục kiến tuy vi diệu, đắc tam thất ngũ tẫn vi thiên.

盖因一行扰外国,遂把五行颠倒编。
cái nhân nhất hành nhiễu ngoại quốc, toại bả ngũ hành điên đảo biên.
以讹传讹竟不明,所以祸福为胡乱。
dĩ ngoa truyện ngoa cánh bất minh, sở dĩ họa phúc vi hồ loạn.

— hết —

QLS phiên âm.

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

 

Kham Dư Ngũ Kinh – Thanh Nang Áo Ngữ

0

青_囊_奥_语
THANH NANG ÁO NGỮ
杨筠松_著
dương quân tùng _ trứ

___

蔣大鴻:楊公得青囊正訣,約其旨為奧語,
Tưởng Đại Hồng: Dương Công đắc Thanh Nang chính quyết, ước kì chỉ vi áo ngữ,
以元空之理氣,用五行之星體,
dĩ nguyên không chi lý khí, dụng ngũ hành chi tinh thể,
而高山平地之作法,巳概括於其中,
nhi cao sơn bình địa chi tác pháp, Tỵ khái quát ư kì trung,
然非得其真傳口訣者,索之章句之末,
nhiên phi đắc kì chân truyền khẩu quyết giả, tác chi chương cú chi mạt,
終不能辨,謂之奧語,赵眨鋳 W 語也。
chung bất năng biện, vị chi áo ngữ, triệu trát 鋳 W ngữ dã.
______

坤壬乙,巨门从头出;艮丙辛,位位是破军。
Khôn Nhâm Ất, Cự Môn tòng đầu xuất ; Cấn Bính Tân, vị vị thị Phá Quân.
辰巽亥,尽是武曲位;甲癸申,贪狼一路行。
Thìn Tốn Hợi, tẫn thị Vũ Khúc vị ; Giáp Quý Thân, Tham Lang nhất lộ hành.
左为阳,子癸至亥壬;右为阴,午丁至巳丙。
tả vi dương, Tí Quý chí Hợi Nhâm ; hữu vi âm, Ngọ Đinh chí Tỵ Bính.
雌与雄,交会合玄空;雄与雌,玄空卦内推。
thư dữ hùng, giao hội hợp huyền không ; hùng dữ thư, huyền không quái nội thôi.
山与水,须要明此理;水与山,祸福尽相关。
sơn dữ thủy, tu yếu minh thử lý ; thủy dữ sơn, họa phúc tẫn tương quan.
明玄空,只在五行中;知此法,不须寻纳甲。
Minh huyền không, chỉ tại ngũ hành trung ; tri thử pháp, bất tu tầm nạp giáp.
颠颠倒,二十四山有珠宝;顺逆行,二十四山有火坑。
điên điên đảo, nhị thập tứ sơn hữu châu bảo ; thuận nghịch hành, nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh.
认金龙,一经一纬义不穷;动不动,直待高人施妙用。
nhận kim long, nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng ; động bất động, trực đãi cao nhân thi diệu dụng.

__

第一义,要识龙身行与止。
đệ nhất nghĩa, yếu thức long thân hành dữ chỉ.
第二言,来脉明堂不可偏。
đệ nhị ngôn, lai mạch Minh đường bất khả thiên.
第三法,传送功曹不高压。
đệ tam pháp, truyện tống công tào bất cao áp.
第四奇,明堂十字有玄微。
đệ tứ kỳ, Minh đường thập tự Hữu huyền vi.
第五妙,前后青龙两相照。
đệ ngũ diệu, tiền hậu thanh long lưỡng tương chiếu.
第六密,八国城门锁正气。
đệ lục mật, bát quốc thành môn tỏa chính khí.
第七奥,要向天心寻十道。
đệ thất áo, yếu hướng thiên tâm tầm thập đạo.
第八裁,屈曲流神认去来。
đệ bát tài, khuất khúc lưu thần nhận khứ lai.
第九神,任他平地与青云。
đệ cửu thần, nhậm tha bình địa dữ thanh vân.
第十真,如有一缺非真情。
đệ thập chân, như Hữu nhất khuyết phi chân tình.

__

明倒杖,卦坐阴阳何必想。
Minh đảo trượng, quái tọa âm dương hà tất tưởng.
识掌模,太极分明必有图。
thức chưởng mô, thái cực phân minh tất hữu đồ.
知化气,生克制化须熟记。
tri hóa khí, sinh khắc chế hóa tu thục kí.
说五星,方圆尖秀要分明。
thuyết ngũ tinh, phương viên tiêm tú yếu phân minh.
晓高低,星峰须辨得玄微。
hiểu cao đê, tinh phong tu biện đắc huyền vi.
鬼与曜,生死去来真要妙。
quỷ dữ diệu, sinh tử khứ lai chân yếu diệu.
向放水,生旺有吉休囚否。
hướng phóng thủy, sinh vượng hữu cát hưu tù bĩ.

__

二十四山分五行,知得荣枯死与生。
nhị thập tứ sơn phân ngũ hành, tri đắc vinh khô tử dữ sinh.
翻天倒地对不同,其中秘密在玄空。
phiên thiên đảo địa đối bất đồng, kì trung bí mật tại huyền không.
认龙立穴要分明,在人仔细辨天心。
nhận long lập huyệt yếu phân minh, tại nhân tử tế biện thiên tâm.
天心既辨穴何难,但把向中放水看。
thiên tâm kí biện huyệt hà nan, đãn bả hướng trung phóng thủy khán.
从外生入名为进,定知财宝积如山。
tòng ngoại sinh nhập danh vi tiến, định tri tài bảo tích như sơn.
从内生出名为退,家内钱财皆尽废。
tòng nội sinh xuất danh vi thối, gia nội tiền tài giai tẫn phế.
生入克入名为旺,子孙高官尽富贵。
sinh nhập khắc nhập danh vi vượng, tử tôn cao quan tẫn phú quý.
脉息生旺要知因,龙歇脉寒灾祸侵。
mạch tức sinh vượng yếu tri nhân, long hiết mạch hàn tai họa xâm.
纵有他山来救助,空劳禄马护龙行。
túng Hữu tha sơn lai cứu trợ, không lao lộc mã hộ long hành.
劝君再把星辰辨,吉凶祸福如神见。
khuyến quân tái bả tinh thần biện, cát hung họa phúc như thần kiến.
识得此篇真妙微,又见郭璞再出现。
thức đắc thử thiên chân diệu vi, hựu kiến quách phác tái xuất hiện.

— hết —
QLS phiên âm

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

Tổ chức Lễ Cầu An đầu xuân Canh Tí cho gia đình các thành viên trong CLB – Ngày 15/03/2020 DL.

6

Tổ chức Lễ Cầu An đầu xuân Canh Tí cho gia đình các thành viên trong CLB – Ngày 15/03/2020 DL.

Kính gửi toàn thể hội viên CLB, các bạn thành viên, Nhân dịp đầu năm mới CLB Phong Thủy Thăng Long tổ chức Lễ Cầu An cho gia đình các thành viên CLB. Trân trọng kính mời Anh chị Hội viên, học viên CLB và các bạn thành viên diễn đàn tham gia. Kế hoạch tổ chức cụ thể như sau:
 Thời gian: 6h00- 19h00 Chủ Nhật Ngày 15-03-2020 Dương lịch (Tức ngày 22/02 Âm lịch).
 Lịch trình:
– 5h30p tập trung tại Ngõ 282 đường Kim Giang (gửi xe máy và ô tô vào sân UBND phường Đại Kim), Phường Đại Kim, Q.Hoàng Mai, Hà Nội.
– 6h00 xe xuất phát từ 282 Kim Giang đi Tuyên Quang.
– 9h đến đền Núi Dùm (Hay đền Đàm) tại thành phố Tuyên Quang và sẽ hành lễ 30p,
– 9h30 – 10h di chuyển đến đền Tam Cờ – Tuyên Quang: Thiết lập đàn lễ Cầu An cho gia đình các thành viên CLB,
– 10h30 – 12h: Tổ chức lễ Cầu An.
– 12h00 – 14h30: di chuyển đến nhà hàng gần đó và thụ lộc,
– 14h30 – 15h30: Đoàn hành hương đến đền Ỷ La và các đền chùa gần đó….
– 16h00 – 19h00: Đoàn di chuyển trở về Hà Nội, nếu có điều kiện đoàn sẽ tổ chức liên hoan tại Linh Đàm.
· Thành phần: BCN & hội viên CLB, các học viên các khóa học và các thành viên diễn đàn.
· Chủ trì: Thầy Nguyễn Trọng Tuệ.
· Kinh phí tham gia: 700.000 Đồng/.Vui lòng nộp kinh phí trước khi tham gia để BTC đặt lễ và xe.
– Nộp trực tiếp tại Thanh Phong Các: Mr-Phú: 0946.606.078
– Chuyển khoản đến số tài khoản: 0460103947870021 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – SCB chi nhánh Thăng Long Hà Nội, chủ tài khoản – NGUYEN THI HONG (Cô Hồng Phó chủ tịch Phụ trách tài chính CLB – 0974.011.014).
Đăng ký tham gia tại: https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScfwAKh-yLuKXBusqmVQZ0j8VGIfYEvqKN6vNsWSUmept6dKg/viewform?fbclid=IwAR0lD38cdADem44iGxGhtYVjYkHPjKG2Yl45pBSBqaOwA8RKCUUZ8Lh8Ddw
· Đăng ký làm sớ riêng: ……….(Cầu tài lộc, cầu danh, cầu con cái), kinh phí làm sớ riêng là: 100.000 đồng.
Lưu ý:
+ Do thời gian tập trung và xuất phát sớm nên CLB sẽ bố trí Đồ ăn sáng cho mọi người khi lên xe.
+ Thời gian đăng ký: Muộn nhất ngày 15/02 Âm lịch (Ngày 08/03/2020 Dương lịch)

 

Lập quẻ Mai Hoa

0
Lập Quẻ Mai Hoa
Lập Quẻ Dịch
Bói Lục Hào
1 – Quẻ Mai Hoa là gì.

Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biền; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch).

2 – Cách lập quẻ Mai Hoa
  • Vào một trong các đường dẫn sau:
    • https://tuvivietnam.vn/boi-luc-hao/
    • https://tuvivietnam.vn/boi-dich-phong-thuy-thang-long/
    • https://phongthuythanglong.vn/boi-luc-hao
    • https://phongthuythanglong.vn/boi-dich-phong-thuy-thang-long
  • Chọn giờ động tâm, nếu giờ động tâm là giờ an quẻ thì không phải chỉnh sửa
  • Click vào an quẻ và tải ảnh về máy
3- Xem quẻ dịch miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/phongthuythanglong/. Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

 

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

CÁCH LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

0

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

Để lập lá số TỨ TRỤ nhanh và chuẩn xác nhất các bạn vào tuvivietnam.vn. Đây là trang cung cấp công cụ và thư viện miễn phí lớn nhất Việt Nam.

1 – Các Yếu tố bắt buộc để thành lập 01 lá số
  • Ngày tháng năm giờ sinh phải là chính xác theo giờ sinh của mình. Nhiều bạn không nhớ ngày giờ sinh tự cho mình một giờ sinh là không đúng
  • Ngày sinh trên giấy tờ không liên quan đến việc lập lá số TỨ TRỤ
2- Cách lập lá số TỨ TRỤ
  • https://tuvivietnam.vn/la-so-tu-tru/ Vào mục Lập Lá Số TỨ TRỤ sau đó điền thông tin : Họ Tên – Năm – Tháng  – Ngày – Giờ Sinh
  • Click vào An Lá Số sẽ thấy được lá số.
  • Lá số được hiển thị dưới dạng ảnh nên có thể download về máy tính hay điện thoại của mình
3- Xem tứ trụ miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/diendantuvivietnam/ . Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

 

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

CÁCH LẬP LÁ SỐ TỬ VI

0

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

Để lập lá số tử vi nhanh và chuẩn xác nhất các bạn vào tuvivietnam.vn. Đây là trang cung cấp công cụ và thư viện miễn phí lớn nhất Việt Nam.

1 – Các Yếu tố bắt buộc để thành lập 01 lá số
  • Ngày tháng năm giờ sinh phải là chính xác theo giờ sinh của mình. Nhiều bạn không nhớ ngày giờ sinh tự cho mình một giờ sinh là không đúng
  • Ngày sinh trên giấy tờ không liên quan đến việc lập lá số Tử Vi
2- Cách lập lá số tử vi
  • https://tuvivietnam.vn/lasotuvi/ Vào mục Lập Lá Số Tử Vi sau đó điền thông tin : Họ Tên – Năm – Tháng  – Ngày – Giờ Sinh
  • Click vào An Lá Số sẽ thấy được lá số.
  • Lá số được hiển thị dưới dạng ảnh nên có thể download về máy tính hay điện thoại của mình
3- Xem tử vi miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/diendantuvivietnam/ . Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy. (Phần 4)

0

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy

1.3.2.1 Y cứ thuyết Phong Thủy Tướng Địa
Thuật Phong Thủy có một nội dung khá rộng lớn so với nhiều môn loại chiêm đoán khác, nó bao gồm cả thiên văn, địa lý và những sinh hoạt trong xã hội. Như vậy loại thuật pháp này phải có khuôn mẫu lý luận để y cứ, nếu không, nhiều nội dung của chúng không thể dung hợp thành một thể được.
Thuật Phong Thủy nhân mạnh sự nhận thức về mối quan giữa ba khái niệm Trời (Thiên), Đất (Địa) và Người (Nhân), loại nhận thức này chính là cơ sở quan niệm cấu tạo nên khuôn mẫu lý luận, chỗ nó y cứ vào chính là vũ trụ quan truyền thống. Như đã nói, chiêm đoán của thuật Phong Thủy về đại thể có thể chia ra làm hai phương pháp lớn là chiêm đoán theo hình thế bên ngoài (thuật ngữ Phong Thủy gọi là Loan Đầu) và chiêm đoán theo phương vị thuật số (Lý Khí), mặc dầu đây là hai môn phái chiêm đoán có phép tắc lý luận riêng, nhưng hai môn phái ấy lại có chung một y cứ lý luận.


1.3.2.2. Ảnh hưởng của vũ trụ quan truyền thống.
Thuật Phong Thủy thông qua nơi cư trú của con người để nhắm tới mục đích chiêm đoán về cuộc sống của con người, vạch ra những điều cấm kị cần tránh để có được một cuộc sống trong hoàn cảnh hài hòa. Lý luận Phong Thủy, phần lớn là thể hiện cụ thể nền văn hóa truyền thống, trong đó vũ trụ quan truyền thống Trung Quốc có đặc trưng lớn là tính trật tự, trật tự này có thể khái quát bằng chữ “sinh” , trong Hệ từ của kinh Dịch có câu: “Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái định cát hung. Cát hung sinh đại nghiệp.” (Tạm dịch: Đạo Dịch có Thái cực, sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ, tám quẻ xác định tốt xấu, tốt xấu sinh ra nghiệp lớn.)
Lý luận Dịch vĩ kết hợp Dịch truyện với học thuyết Hoàng Lão thời Ngụy Tấn đã cho ra đời một quan niệm mới về vũ trụ.
Sách “Càn Tạc Độ” viết: “Phù hữu hình sinh ư vô hình, Càn Khôn an tòng sinh? Cổ viết: “Hữu Thái Dịch, hữu Thái Sơ, hữu Thái Thủy, hữu Thái Tố. Thái Dịch giả vị kiến khí dã; Thái Sơ giả khí chi thủy dã; Thái Thủy giả hình chi thuỷ dã; Thái Tố giả chất chi thủy dã. Khí hình chất cụ nhi vị ly, cố viết hồn luân.” (Tạm dịch: Hữu hình sinh ra từ vô hình, vậy Càn Khôn sinh ra từ đâu? Cho nên nói: có Thái Dịch, có Thái Sơ, có Thái Thuỷ, có Thái Tố. Thái Dịch là khí chưa thấy hình; Thái Sơ là sự bắt đầu của khí; Thái Thủy là sự bắt đầu của hình; Thái Tố là sự bắt đầu của chất. Hình, khí, chất đầy đủ mà không tách rời nhau nên gọi là Hồn Luân.)
Hồn Luân chính là hình thái vũ trụ mà Lão tử gọi là “hữu vô hỗn thành” (có và không kết hợp hỗn độn mà thành) và cùng là đặc trưng hình thái ở giai đoạn trước khi hình thành vũ trụ, Thuyết vạn vật vũ trụ sinh sản nuôi dưỡng diễn biến không ngừng có một ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành lý luận chiêm đoán Phong Thủy ở chỗ:
– Vì vạn vật có mối quan hệ tương tác, do đó có thể suy rộng ra thành quan điểm về cách chọn lựa nơi ở, trong đó có bao hàm những kinh nghiệm vừa có thể giải thích, vừa không thể giải thích bằng hiểu biết thông thường. Chẳng hạn ngoài việc nghiên cứu các nguyên tố liên quan trực tiếp như địa hình, hoàn cảnh khách quan chung quanh, trong lý luận Phong Thủy còn xét cả nhừng phương diện như tinh tú, long mạch, v.v…
– Thuật Phong Thủy chiêm đoán tốt xấu cho nhà ở vì “cát hung sinh đại nghiệp”, mà tốt xấu lại do bát quái (tám quẻ) xác định, do vậy thuật Phong Thủy rất chú trọng bát quái. Đồng thời là vì “Bát quái” sinh ra do “Tứ tượng”, “Tứ tượng” diễn biến từ “Lưỡng nghi”, mà “Lưỡng nghi” chính là Âm Dương của trời đất, do đó lý luận Phong Thủy trước tiên chia đối tượng chiêm đoán thành hai loại Âm và Dương, nghĩa là chia hình thế đất đai thành ra hai loại thuộc tính Âm Dương rồi chiêm đoán theo “Long thượng bát sát”. (Long ở trong tám thần sát.) Chính điều này đã làm cho thuật Phong Thủy biến thành phức tạp. Lý luận Phong Thủy trong bất cứ môn phái nào cũng đều có nguyên tắc “Lai long khứ mạch” (Long đến mạch đi) và đều y cứ vào thuyết sinh sôi nuôi dưỡng diễn biến vô cùng của vũ trụ quan truyền thống.
Chương mở đầu của sách “Cửu Thiên Huyền Nữ Thanh Nang Hải Giác kinh” đưa ra đồ hình “Thái vô thủy khí”, “Thái hữu trung khí”, “Thái vô chung khí”. Tuy thuyết này không hoàn toàn giống thuyết vũ trụ của Dịch Vĩ, nhưng nó vẫn biểu hiện mối quan hệ tương sinh của “Khí” trong ba giai đoạn mở đầu, giữa và cuối cùng của sự vật. Trong đó hình đồ giải thích “Hữu vô chung khí” có câu “Hữu vô tương sinh, vạn vật hoá thành” (Tạm dịch: “Có” và “không” sinh lẫn nhau nên vạn vật biến hóa mà thành.) Xét theo thuyết “Thái cực sinh lưỡng nghi” đại khái thì “Chung khí” tương đương với giai đoạn Thái cực.
Khái niệm vạn vật tương sinh tương tác và lý luận Phong Thủy về việc “tầm long tróc mạch” cùng có quan hê mật thiết. Bàn về sự vật người ta thường bàn tới nguồn gốc, trời đất có nguồn gốc, sơn.

1.4. Thuật Phong Thủy thời Tùy Đường.
Thuật Phong Thủy trong truyền thống văn hóa Trung Quốc tới thời Tùy Đường đã hoàn chỉnh hệ thống, nó thâu gồm nhiều môn loại lý luận và nội dung của các phép chiêm đoán đã có trước đó, từ đó lập nên một khuôn phép riêng cho mình. Điều ngày nay chúng ta gọi là Phong Thủy, đứng về mặt chỉnh thể có thể nói là nhờ vào thời kỳ này mà thành thục.
Ở thời đại Tùy Đường, người ta xem trọng và trùng tân lý luận Kham Dư đời Hán, trong cách chiêm đoán mồ mả và nhà ở (tức Âm trạch và Dương Trạch) không chỉ có thuật số phương vị, mà còn có lý luận Hình Pháp Tướng Địa; trong môn Dương Trạch có thuyết Âm Dương Ngũ Hành, trong Táng thuật cũng có thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Đương thời thư tịch về lĩnh vực này xuất hiện khá nhiều, nhưng không thiên về một khuynh hướng nào như các thời đại trước, đây chính là đặc trưng của thuật Phong Thủy thời kỳ này.
Đời Đường có rất nhiều nhà sư biết thuật Phong Thủy, trong số đó Tư Mã Đầu Đà là người khá nổi tiếng, tương truyền ông vân du nhiều nơi, từng đi qua hơn 170 ngọn núi, về sau phát hiện ở Hồ Nam một ngọn núi kết long mạch, bèn xây chủa Đồng Khánh ở đó.
Triều đình nhà Đường lập ra Thiên Giám ty, các quan viên làm việc ở Thiên Giám ty đều tinh thông Phong Thủy. Dương Quân Tùng, một nhà Phong Thủy trứ danh được tôn làm tổ sư của Hình phái, cũng từng làm quan ở Thiên Giám ty, sau đó ông từ quan về Giang Tây mở trường dạy học, hình thành trường phái Phong Thủy Loan Đầu ở Giang Tây. Tương truyền ông tên là ích, tự là Thúc Mậu, Quân Tùng là hiệu. Ông được người đương thời tôn xưng là Cứu Bần tiên sinh (ông thầy cứu nghèo, vì những người được ông xem Phong Thủy đều phát đạt lên).
Từ đời Đường trở về sau, thuật Phong Thủy bắt đầu chia ra phái hệ rõ rệt. Một phái xem trọng hình thế, hình pháp, thế núi; hoạt động mạnh ở vùng Giang Tây. Một phái xem trọng lý khí, phương vị; hoạt động mạnh ở Phúc Kiến.
Thật ra về lý thuyết thì hai phái gần như không thể tách biệt nhau hẳn, Hình phái cũng bàn về phương vị, Lý phái cũng phối hợp hình thế, chỉ có điều điểm mà họ nhấn mạnh lại khác nhau. Có một số nhà Phong Thủy chủ trương dung hợp lý thuyết hai phái để ứng dụng. Tuy vậy, Hình phái lưu truyền rộng rãi trong dân gian hơn, vì dễ hiểu và ít có điều cấm kị. Còn phái Lý Khí càng lúc càng bí truyền, họ chủ trương chỉ truyền khẩu quyết trực tiếp cho một số đệ tử được chọn lọc mà thôi.

1.5. Thuật Phong Thủy thời Tống Nguyên
Môn Phong Thủy từ đời Tống, đời Nguyên trở về sau cơ bản vẫn tuân thủ trạng thái cũ, về chiêm pháp không có sáng tạo mới. Nhưng đứng ở góc độ cục bộ mà nói, do ảnh hưởng một số triết gia phái Tượng Số học nên thuật Phong Thủy ở thời kỳ này có một số phép tắc cá biệt như các thuyết thứ tự của bát quái, phương vị của bát quái, Hà Đồ Lạc Thư và các thần sát v.v…
Ngoài ra còn hai điều đáng lưu ý: Một là, người ta rất chú trọng nhà ở và ít đề cập đến Âm trạch hơn thời kỳ trước; hai là, có một số ghi chép về thuật Phong Thủy lại do chính những nhà Nho nghiêm túc viết như Cao Tự Tôn, Hồng Mại, Viên Thái, v.v…
Danh sư Phong Thủy thời kỳ này phải kể đến Lại Văn Tuấn, tự là Thái Tố. Tiểu sử của ông mang nhiều huyền thoại rất khó khảo cứu. Tương truyền ông rất tinh thông thuật Tướng Địa, từng làm quan ở huyện Kiên Dương, tỉnh Phúc Kiến; sau đó từ quan rồi chu du khắp nơi, hành trang chỉ có một bầu rượu giắt lưng, tự cho mình có trọng trách tầm long điểm huyệt để cứu nhân độ thế. Ông thường tự xưng là Bố Y tử (kẻ áo vải), người đời tôn xưng ông là “Tiên Tri sơn nhân” hoặc gọi ông là Lại Bố Y tiên sinh .


1.6. Thuật Phong Thủy thời Minh Thanh.
Vào thời Minh Thanh, thuật Phong Thủy không những rất thịnh hành trong dân gian mà ngay cả giới Nho sỹ cũng ưa chuộng. Trong thời kỳ này có nhiều công trình ghi chép thực tế về Phong Thủy liên quan tới hoàn cảnh địa lý của đất nước Trung Quốc.
Trong số các đại sư Phong Thủy thời kỳ này, người ta phải kể tới Lưu Cơ. Ông tự là Bá Ôn, người Thanh Điền (nay thuộc tỉnh Triết Giang), đỗ tiến sỹ năm Nguyên Thống đời Nguyên, về sau Chu Nguyên Chương khởi binh, ông theo phò tá và được trọng dụng. Khi triều đại nhà Minh thành lập, ông là người tham dự mọi công việc chế định khoa cử, luật pháp và lễ nghi. Tuy “Minh Sử” không có ghi chép gì về thuật Phong Thủy của ông, nhưng trong dân gian truyền tụng rất nhiều giai thoại về việc ông liên quan tới thuật Phong Thủy. Trong giới Phong Thủy gia, Lưu Cơ được xem là bậc thầy, là một người để lại dâu ấn khá sâu đậm trong lịch sử môn Phong Thủy.
Càng về sau, môn Phong Thủy càng được ứng dụng phổ cập trong dân gian, nội dung chiêm đoán càng lúc càng dung tục. Trong cách chiêm đoán Âm trạch và Dương Trạch, các thuyết như Bát Quái, Cửu Tinh, và Chiêm Mệnh Ngũ Tinh đều được phối hợp thật phức tạp.
Đến cuối đời Thanh, bộ “Thẩm thị Huyền Không học” do Thẩm Trúc Nhưng trứ tác, được xem là tập đại thành và đặt dấu chấm hết cho thời kỳ bí truyền của phái lý khí.

 

ST

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy. (Phần 3)

0

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy

1.3.2. Sự sáng lập thuyết phong thủy tướng địa.
Trong phép chiêm đoán hoàn cảnh địa lý thời kỳ này có một cách lý luận rất độc đáo, trong đó có khái niệm cơ bản là “Phong Thủy”. Thông thường người ta cho rằng xuất xứ của từ “Phong Thuy” bắt nguồn từ “Quách Phác Táng thư” mặc dầu thời kỳ Ngụy Tấn chưa dùng danh từ “Phong Thủy” để gọi bộ môn này. Trong “Quách Phác cổ bản Táng kinh” có nội dung liên quan tới hai chữ “Phong Thủy” như sau:
“Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy.” (Tạm dịch: Khí nương theo gió thì tản mạn, gập nước giới hạn thì dừng, người xưa làm cho (khí) tụ mà không cho tán. làm cho (khí) lưu thông mà có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy.)
Hoặc như câu:
“Phong Thủy chi pháp, đắc thủy vi thượng, tàng phong thứ chi.” (Tạm dịch: Phép Phong Thùy lấy được nước là thượng sách, kế đến mới tàng chứa gió.)
Phong và Thủy, tức gió và nước. “Phong” ngoài nghĩa đen là gió, nó còn chỉ tác động của gió và các trạng thái thời tiết. Cũng vậy, “thủy” (nước) ở đây ngoài việc chỉ khe, suối, sông, rạch,., điều chính yếu còn là tác động của nó. Chúng đều có sức mạnh và có tác động trong các địa hình hoàn cảnh khác nhau, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt của con người. Nhà ở cần thông gió, nhưng cũng cần tránh sự tập kích của cuồng phong bão tố (tức gió ở cường độ mạnh). Sông nước cũng cần cho cuộc sống, nhưng nó cũng có thể xâm hại đất đai nhà ở khi trở thành lũ lụt.
Từ đó người ta quy nạp thành nguyên lý: một cuộc đất tốt là một cuộc đất có thê “tàng phong tụ thủy”, tức hoàn cảnh phải có núi rừng để cản gió và giữ nước, nơi đó sông nước phải trôi chảy hiền hòa không gây ra lũ lụt.


Trong thuyết Phong Thủy còn có một khái niệm trọng yếu khác, đó là “khí”. “Khí” không có hình dáng, không thể thấy trực tiếp, nhưng trong quan niệm của người xưa, “khí” đúng là có tồn tại, không ngừng biến động và có một sức mạnh cụ thể. Cho nên nó cùng với “phong” và “thủy” có một đặc trưng chung. Hay nói cách khác, “phong” và “thủy” là thông qua địa hình để biểu hiện, còn “khí” thì thông qua “phong” và “thủy” để biểu hiện. Đây là nội dung hai tầng trong lý luận Phong Thủy. Phong và thủy khái quát nội dung của địa hình, đây là tầng thứ nhất của thuyết Phong Thủy. Khí là một từ then chốt để bình phẩm chất lượng Phong Thủy, cũng là bình phẩm nội dung chính của Phong Thủy, cho nên nó thuộc tầng biểu đạt kết quả luận đoán Phong Thủy, tức tầng thứ hai. Xem Phong Thủy, nói cho cùng là xem tác dụng tốt xấu của “khí” đối với vị trí không gian nhất định. Trong hai tầng này, “phong” và “thủy” là môi giới liên kết “khí” với địa hình, là cách luận đoán từ hình tượng cụ thể chuyển hóa thành các tác động trừu tượng. Trong quá trình chọn lựa, đối tượng được phán đoán cụ thể là địa hình, giải thích và bình phẩm chất lượng sử dụng địa hình là khái niệm Phong Thủy. Đồng thời như đã nói ở trên, người ta dùng “phong” và “thủy” để diễn tả “khí”, còn “phong” và “thủy” thì lại lấy địa hình để đễ diễn tả trạng thái tác động của nó, cho nên trong thuyết Phong Thủy, hai quá trình này cùng tồn tại. Tình huống như vậy khiến cho nhiều người cảm thấy thuyết Phong Thủy vừa rất huyền bí, vừa rất phức tạp.

1.3.2. Sự sáng lập thuyết phong thủy tướng địa.
Trong phép chiêm đoán hoàn cảnh địa lý thời kỳ này có một cách lý luận rất độc đáo, trong đó có khái niệm cơ bản là “Phong Thủy”. Thông thường người ta cho rằng xuất xứ của từ “Phong Thuy” bắt nguồn từ “Quách Phác Táng thư” mặc dầu thời kỳ Ngụy Tấn chưa dùng danh từ “Phong Thủy” để gọi bộ môn này. Trong “Quách Phác cổ bản Táng kinh” có nội dung liên quan tới hai chữ “Phong Thủy” như sau:
“Khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy.” (Tạm dịch: Khí nương theo gió thì tản mạn, gập nước giới hạn thì dừng, người xưa làm cho (khí) tụ mà không cho tán. làm cho (khí) lưu thông mà có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy.)
Hoặc như câu:
“Phong Thủy chi pháp, đắc thủy vi thượng, tàng phong thứ chi.” (Tạm dịch: Phép Phong Thùy lấy được nước là thượng sách, kế đến mới tàng chứa gió.)
Phong và Thủy, tức gió và nước. “Phong” ngoài nghĩa đen là gió, nó còn chỉ tác động của gió và các trạng thái thời tiết. Cũng vậy, “thủy” (nước) ở đây ngoài việc chỉ khe, suối, sông, rạch,., điều chính yếu còn là tác động của nó. Chúng đều có sức mạnh và có tác động trong các địa hình hoàn cảnh khác nhau, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt của con người. Nhà ở cần thông gió, nhưng cũng cần tránh sự tập kích của cuồng phong bão tố (tức gió ở cường độ mạnh). Sông nước cũng cần cho cuộc sống, nhưng nó cũng có thể xâm hại đất đai nhà ở khi trở thành lũ lụt.
Từ đó người ta quy nạp thành nguyên lý: một cuộc đất tốt là một cuộc đất có thê “tàng phong tụ thủy”, tức hoàn cảnh phải có núi rừng để cản gió và giữ nước, nơi đó sông nước phải trôi chảy hiền hòa không gây ra lũ lụt.
Trong thuyết Phong Thủy còn có một khái niệm trọng yếu khác, đó là “khí”. “Khí” không có hình dáng, không thể thấy trực tiếp, nhưng trong quan niệm của người xưa, “khí” đúng là có tồn tại, không ngừng biến động và có một sức mạnh cụ thể. Cho nên nó cùng với “phong” và “thủy” có một đặc trưng chung. Hay nói cách khác, “phong” và “thủy” là thông qua địa hình để biểu hiện, còn “khí” thì thông qua “phong” và “thủy” để biểu hiện. Đây là nội dung hai tầng trong lý luận Phong Thủy. Phong và thủy khái quát nội dung của địa hình, đây là tầng thứ nhất của thuyết Phong Thủy. Khí là một từ then chốt để bình phẩm chất lượng Phong Thủy, cũng là bình phẩm nội dung chính của Phong Thủy, cho nên nó thuộc tầng biểu đạt kết quả luận đoán Phong Thủy, tức tầng thứ hai. Xem Phong Thủy, nói cho cùng là xem tác dụng tốt xấu của “khí” đối với vị trí không gian nhất định. Trong hai tầng này, “phong” và “thủy” là môi giới liên kết “khí” với địa hình, là cách luận đoán từ hình tượng cụ thể chuyển hóa thành các tác động trừu tượng. Trong quá trình chọn lựa, đối tượng được phán đoán cụ thể là địa hình, giải thích và bình phẩm chất lượng sử dụng địa hình là khái niệm Phong Thủy. Đồng thời như đã nói ở trên, người ta dùng “phong” và “thủy” để diễn tả “khí”, còn “phong” và “thủy” thì lại lấy địa hình để đễ diễn tả trạng thái tác động của nó, cho nên trong thuyết Phong Thủy, hai quá trình này cùng tồn tại. Tình huống như vậy khiến cho nhiều người cảm thấy thuyết Phong Thủy vừa rất huyền bí, vừa rất phức tạp.

ST

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy. (Phần 2)

0

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy

Thuật phong thủy thời Ngụy Tấn.
1.3.1. Táng kinh và sự hưng thịnh của Táng thuật.
Đến đời Ngụy Tấn, người ta chú trọng ý nghĩa của không gian vùng đất chôn cất người chết hơn. Trong thời kỳ này, các thư tịch ghi chép về Dương Trạch xuất hiện rất ít. Nói một cách khái quát, thuật Tướng Trạch đời Ngụy Tấn chính là Táng Thuật (tức phép xem đất để chôn cất).


Đời Ngụy Tấn thịnh hành “Táng Thuật” chủ yếu có hai đặc điểm:
1- Xuất hiện nhiều thư tịch về “Táng Thuật”.
2- Xuất hiện danh từ “Trạch Táng thuật sỹ”. Những kinh điển trọng yếu trong rừng sách Phong Thủy của các đời sau đều có liên quan đến những nhân vật đời Ngụy Tấn hoặc thư tịch xuất hiện trong thời kỳ này.
Táng thuật đời Ngụy Tấn chủ yếu căn cứ lý luận “Hình Pháp Tướng Địa”, trên thực chất đây cũng chính là lý luận cơ bản của môn Phong Thủy sẽ bàn ở sau. Táng thuật là phép chọn đất để táng người chết, và cũng là phép xem tướng đất (vì ban đầu thuật Tướng Địa chú trọng việc chọn nơi ở cho người còn sống), cho nên “Táng thuật” còn gọi là “Địa Lý thuật”. Thông thường những người không chuyên môn thời cổ gọi họ là “Táng gia”, “Táng thuật gia” hoặc “Âm trạch gia”, còn gọi chung là “Địa Lý gia”, “Phong Thủy gia”. Lý luận Phong Thủy là lý luận của môn Địa Lý, ban đầu nó kết hợp với “Táng thuật” để hình thành. Vì vậy có thể nói, công dụng chủ yếu của môn Địa Lý là “Táng thuật”. Sự thinh hành Táng thuật ở đời Ngụy Tấn cũng phản ánh sự thành thục của môn Địa Lý.


Địa Lý hay Táng thuật lúc bấy giờ còn gọi là “Thanh Ô” là tên sách viết về Táng thuật, bắt đầu lưu hành vào thời kỳ Ngụy Tấn. “Thanh Ô” có thể dùng để chỉ chung cho hai nhà: Địa Lý và Táng Thuật.
Phép tắc chôn cất truyền thống của Trung Quốc chủ yếu bắt nguồn từ thời kỳ Ngụy Tấn. về sau có rất nhiều thư tịch hoặc danh từ chuyên môn của môn Địa Lý được thác danh cho người đời Ngụy Tấn sáng tác là cùng do nguyên nhân trên.
Từ cuối đời Hán trở về sau, phương pháp tuyển chọn đất để chôn cất theo cách “Hình Pháp Tướng Địa” rất thịnh hành. Thời Tam Quốc, Quán Lộ người nước Ngụy có thể được xem như một nhà khai sáng, chí ít cùng là một danh gia của môn Địa Lý. Tương truyền ông là người Sơn Đông, dung mạo xấu xí, tính tình không ưa lễ nghi khuôn phép, thích uống rượu, từ nhỏ đã thích điều huyền hoặc. Lớn lên ông tinh thông thiên văn địa lý, giỏi xem tướng, tiếng tăm lừng lẫy. Trong sách “Tam Quốc Chí” phần “Quán Lộ truyện” có ghi chép nhiều truyền thuyết về ông.
Kế tục sau Quản Lộ là Quách Phác, tư là Cánh Thuần, người Hà Đông (nay là tinh Sơn Tây). Vào triều đại nhà Tấn, ông cũng được xem là một danh gia, giới thuật sỷ hậu thế tôn ông làm tổ sư. Trong lịch sử, truyền thuyết về chiêm bốc Địa Lý liên quan đến ông khá nhiều, phần lớn mang sắc thái thần bí. Hiện còn sách “Quách Phác cổ bản Táng kinh” phần nội thiên, nhưng các học giả hiện nay đều cho rằng sách này do người đời Tống viết rồi thác danh ông. Vì theo chính sử từ đời Tống trở về trước, không có ghi chép tên sách “Táng thư” do Quách Phác trứ tác. Trong “Tấn thư” phần “Quách Phác truyện” cũng không đề cập đến sự tích ông trứ tác “Táng thư” cũng không đề cập đến cuốn “Táng thư’ này. Cho nên có thể khẳng định “Quách Phác cổ bản Táng kinh” không phải do ông viết.
Trước đời Tống sách mang tên “Táng kinh” hoặc “Táng thư’ rất nhiều, nhưng không cách nào truy tìm tông tích xuất xứ được. Tuy nhiên vì Quách Phác là một danh gia của môn Địa Lý, cho nên học thuyết của ông ít nhiều cùng có liên quan đôn bộ “Thanh Nang”, bộ sách được nhiều người truyền tụng và xem là kinh điển. Điều này cho thấy rằng, Táng thuật hoặc môn Địa Lý đã tương đối thành thục vào thời đại Ngụy Tấn, và tinh hoa của Táng thuật cũng không phải do công một mình Quách Phác.


Bộ “Thanh Nang” không có đề tên sách, người đời sau chỉ biết nó là kinh điển bí truyền, thông thường gọi là “Thanh Nang thư”. Do vậy, người ta còn gọi ‘“Thanh Nang thuật” để chỉ Táng thuật hoặc môn Địa Lý. Nội dung sách “Thanh Nang” hiện nay không cách nào biết đích xác được, vì đã thất truyền. Những sách đề tên “Thanh Nang” hiện nay là đều do hậu nhân trứ tác, chẳng liên quan gì tới bộ sách “Thanh Nang” đã kể trên.
Thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều, nhân vật “Thanh Ô” và sách của ông cũng có một ảnh hưởng khá lớn đến dòng lưu truyền Táng Thuật hoặc môn Địa Lý. Thanh ô, còn gọi là Thanh Ồ tử, Thanh Ô công, Thanh Y Ô công, tiểu sử của ông ngày nay khó mà khảo cứu, tương truyền ông là một người rất giỏi phép xem Tướng Địa và Táng thuật, có trứ tác “Tướng Trủng thư” và “Táng kinh”. Người đời sau cũng lấy hai chữ “Thanh ô” đó gọi Táng thuật.

ST

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy. (Phần 1)

0

Nguồn gốc, cơ sở và quá trình phát triển của Phong Thủy. (Phần 1)

Nói một cách khái quát thì quan niệm xem Phong Thủy đã bắt đầu manh nha từ thời Tiên Tần và ảnh hưởng của nó vẫn kéo dài cho tới ngày nay. Theo các nghiên cứu Dân tục học ớ Trung Quốc thì thậm chí cho đến hết thế ky 21 này, thế kỷ của những tiến bộ vượt bậc về mặt kỹ thuật công nghệ thông tin và khoa học, tập tục này cũng khó mà mất đi.
Xét về mặt địa lý thì tập tục này lưu hành khắp Trung Quốc, trong đó Giang Tây, Phúc Kiến, An Huy, Triết Giang là những khu vực được xem như cái nôi của nó. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng tập tục này bắt nguồn từ vùng cao nguyên miền bắc Trung Quốc vào thời kỳ mà người Trung Quốc còn sống trong hang động, nhưng hình thành lý luận và các hệ phái thì ở miền nam Trung Quốc, trong đó có các yếu tố pha trộn với các tập tục và tín ngưỡng dân gian về mồ mả, nhà ở của một số dân tộc ít người tại Trung Quốc.
1.1. Thuật tướng trạch thời Tiên Tần.
Dựa vào các thư tịch cổ và nhiều di chỉ khảo cổ, các học giả cho rằng thời Tiên Tần tuy chưa xuất hiện thuật Phong Thủy, nhưng đà manh nha quan niệm xem Phong Thủy. Đó là thuật “Trạch Cư” (tức thuật chọn nơi cư trú) hay còn gọi là “Bốc Cư”, và thuật “Tướng Trạch” (tức xem tướng nơi cư trú).
Theo những gì đã phát hiện, chúng ta có thể khái quát quan niệm về “Tướng Trạch” thời kỳ đó như sau:
Về địa thế, nơi ở phải là những vùng bằng phẳng trên các triền dốc; nền đất phải khô ráo vững chắc, về địa hình, phái gần các nguồn nước như khe, lạch, suối hay sông ngòi; lượng nước phái đầy đủ, chất nước phải trong sạch, trôi chảy êm ả để có thể giao thông thuận tiện hay đánh bắt cá, hoàn cảnh chung quanh phải có núi rừng xum xuê. Nói chung đó phải là một bối cảnh địa lý mưa thuận gió hòa, không có lũ lụt, dễ dàng lấy nước và đánh bắt cá, đất đai màu mỡ có thể canh tác được, v.v…
Dựa trên những nguyên tắc này, đến khoảng cuối thời Chiến Quốc, người ta đã dần hình thành quan niệm về Địa Mạch (tức khái quát những nguyên tắc vừa kể trên). Điều này về sau được phát triển thành môn học gọi là “Tướng Địa”.
Cũng phải nói thêm, thời kỳ Tiên Tần là một thời kỳ khởi đầu cho nhiều trào lưu triết học ở Trung Quốc. Một số tư tưởng gia (nhất là phái Âm Dương gia) đã đặt những viên đá tảng cho vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Trung Quốc thời bấy giờ, góp phần làm tiền đề cho những lý luận Phong Thủy về sau.
còn nữa…

1.2. Lý luận khám dư thời Tần Hán.
Trải qua khoảng trên một ngàn năm lịch sử, thuật “Tướng Trạch” tới đời Hán là tập đại thành, các phái hệ lý luận của phép xem tướng nhà (tức thuật Tướng Trạch) được hoàn chỉnh và thành thục. Có thể nói, môn Phong Thủy mà chúng ta biết được ngày nay chính là hình thành trên mô thức thuật “Tướng Trạch” đời Hán. Thuật “Tướng Trạch” đời Hán chủ yếu của có 4 đặc điểm như sau:
1- Thuật “Tướng Trạch” đời Hán bắt đầu có lý luận “Kham Dư” tức lý luận thời gian và không gian đối ứng tương đối hoàn bị; trong đó thuật chọn ngày (tức thuật Trạch Cát) và phép xem tướng đất (tức thuật Tướng Địa) được kết hợp hữu cơ trong một môn học thuyết, cổ nhân gọi học thuyết này là “Thiên Địa lý luận” (Lý lẽ của Trời Đất).
2- Trong lý luận này, người xưa đã đặt ra các phép tắc cụ thể cho một môn học mà người đời Hán gọi là “Đồ Trạch thuật”. Do lý luận “Khám Dư” là một lý luận kết hợp giữa phép chọn ngày giờ và phép xem tướng đất, cho nên “Đồ Trạch thuật” là đại biểu cho một hệ phái thuật Tướng Trạch đời Hán, chuyên chiêm nghiệm phương vị triều hướng khởi đầu cho phái Lý Khí sau này.


3- Tới đời Hán, thuật xem hình tướng đất cổ xưa trước đây dùng để chiêm về nhà ở cũng đã hình thành được các phép tắc chuyên môn. Đây là lý luận “Hình Pháp” chuyên bàn về hình thế bên ngoài, khởi đầu cho phái Loan Đầu sau này. Lý luận về “Hình Pháp” cùng với “Đồ Trạch thuật” thành hai tông phái tồn tại song hành.
4- Cả hai tông phái trên đều vận dụng thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Đây là nội dung của thuật Tướng Trạch đời Hán, và cũng là nội dung đặc trưng chủ yếu của môn Phong Thủy trong truyền thống văn hóa Trung Quốc. Nhiều học giả phải công nhận rằng, thuật Tướng Trạch đời Hán chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sứ hình thành thuật Phong Thủy, đồng thời bắt đầu xuất hiện một số dụng ngữ chuyên môn.
Đời Hán, lý luận “Kham Dư” và lý luận “Hình Pháp” đã thành thục, nhưng những lý luận và phép tắc này phần lớn chỉ ứng dụng vào việc chọn và xây dựng nhà ở, ít ứng dụng vào việc xây dựng mộ phần. Ngay cả các thư tịch xuất hiện trong thời kỳ này chủ yếu cũng chỉ đề cập về Dương Trạch (tức nhà ở).

ST

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC